Chương 1: Cơ sở lý luận về tạo động lực làm việc trong tổ chức đơn vị sự nghiệp công lập. Chương 2: Thực trạng tạo động lực làm việc cho nhân viên y tế tại Bệnh viện Đa khoa huyện Vĩnh Lộc. Chương 3: Giải pháp tăng cường động lực làm việc cho nhân viên y tế tại Bệnh viện Đa khoa huyện Vĩnh Lộc. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC TRONG TỔ CHỨC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 1.
Khái niệm về người lao động trong tổ chức đơn vị sự nghiệp công lập Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước [1]. Đơn vị sự nghiệp công lập bao gồm đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn và đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ hoàn toàn. Người lao động trong tổ chức đơn vị sự nghiệp công lập là viên chức. Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật [1].
Như vậy, nhân viên y tế trong bệnh viện là viên chức, là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại bệnh viện theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của bệnh viện theo quy định của pháp luật. Tạo động lực cho người lao động Đối với bất kỳ một sản phẩm, dịch vụ nào thì người lao động vẫn luôn đóng vai trò vô cùng quan trọng; giúp cho sản phẩm, dịch vụ đó có chỗ đứng và sự cạnh tranh trên thị trường. Để có thể tối đa hoá năng suất lao động thì việc đáp ứng nhu cầu của người lao động, tạo môi trường làm việc chuyên nghiệp là hoàn toàn cần thiết. Vì vây, doanh nghiệp cần phải nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng của người lao động, đây cũng chính là nhân tố quan trọng trong chính sách phát triển doanh nghiệp.
Người lao động sẽ sẵn sàng làm việc cống hiến, hết mình nếu như họ hài lòng với môi trường làm việc của mình. Trên thực tế, các doanh nghiệp có sức cạnh tranh lớn đều rất chú trọng đến chiến 4 lược quản lý và phát triển đội ngũ nhân sự, bởi nó mang lại hiệu quả cao về năng suất lao động và năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp. Động lực làm việc Vấn đề động lực làm việc trong tổ chức là một trong những yếu tố quan trọng của công tác quản lý tại tổ chức đó. Tạo động lực giúp nhân viên phấn đấu hoàn thiện, tăng năng suất lao động, nhằm tạo ra lợi nhuận cao hơn, hiệu quả hoạt động của tổ chức cao hơn và là yếu tố tạo nên sự thành công của tổ chức.TS Bùi Anh Tuấn, “Động lực của người lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao” [2].
Như vậy, có thể hiểu động lực là sự thôi thúc, thúc đẩy con người cố gắng đạt được mục tiêu. Động lực của người lao động gắn liền với công việc cuả họ, tổ chức họ làm việc cũng như điều kiện, môi trường họ làm ciệc. Biểu hiện của động lực chính là hiệu quả công việc cũng như thái độ của người lao động với công việc và tổ chức. Như vậy, hành vi tạo động lực trong tổ chức là tổng hợp các yếu tố như văn hóa tổ chức, các chính sách nguồn nhân lực, cơ cấu của tổ chức, tầm nhìn lãnh đạo của tổ chức và cách thức thực hiện các chính sách này.
Động lực làm việc là sự mong muốn được cống hiến hết mình để có thể đạt được mục tiêu, nhiệm vụ được giao phó. Như vậy động lực làm việc là mong muốn hoặc sẵn sàng nỗ lực trong công việc của một người. Mỗi một cá nhân khác nhau sẽ có những động lực khác nhau tuỳ vào từng hoàn cảnh và năng lực của mỗi người. Tạo động lực làm việc 1.
Khái niệm Để một đơn vị hành chính sự nghiệp hoạt động hiệu quả thì đội ngũ nhân viên phải nỗ lực hết mình vì công việc. Chính vì vậy, việc tạo động lực cho cán bộ nhân viên cần phải được chú trọng để có thể đạt được hiệu quả công việc cao. 5 Tạo động lực làm việc được hiểu là tổng hợp các biện pháp và cách ứng xử của tổ chức, các nhà quản lý nhằm tạo ra sự khát khao và tự nguyện của người lao động, cố gắng phấn đấu để đạt được mục tiêu của tổ chức [3; tr 145]. Xét về khía cạnh tâm lý, thì hành động của người lao động không chỉ dựa vào lý trí và mục tiêu, mà còn có ý thức và tình cảm; và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi môi trường sống và làm việc.
Do đó, bằng cách tác động tới ý thức, tình cảm, nhu cầu và lý trí của người lao động, có thể tạo ra được động lực và phát triển nó. Do đó, tạo động lực làm việc có thể hiểu là tất cả các định hướng, quan điểm, biện pháp của tổ chức dùng để quản lý người lao động nhằm khuyến khích, kích thích cá nhân nỗ lực, phấn đấu vì mục tiêu của tổ chức. Tổ chức có thể chủ động trong việc tạo ra động lực làm việc cho người lao động bằng cách nghiên cứu, xem xét, học hỏi để đưa ra các biện pháp hợp lý để thúc đẩy động lực làm việc của người động; cũng như là việc tạo ra điều kiện môi trường làm việc lành mạnh, cởi mở, thoải mái cho người lao động, giúp họ có tinh thần tốt nhất trong quá trình làm việc. Dù vậy, mỗi một tổ chức khác nhau lại có những vấn đề, phạm vi khác nhau; do đó không thể có một biện pháp chung nhất cho tất cả cảc tổ chức.
Chính vì vậy, tổ chức sẽ phải xem xét phạm vi nguồn lực của mình để có thể xem xét giải quyết các vấn đề theo thứ tự ưu tiên, để đảm bảo được hiệu quả cao nhất trong việc tạo động lực. Vì vậy, tổ chức luôn phải thường xuyên, liên tục đưa ra các chính sách kịp thời để đáp ứng nhu cầu, mong muốn, nguyện vọng của người lao động để có thể khuyến khích họ liên tục nỗ lực cống hiến cho tổ chức. Nhân viên y tế là những người tham gia vào các hoạt động với mục đích chính là tăng cường sức khỏe cộng đồng, bao gồm: Bác sỹ, dược sỹ, điều dưỡng, nữ hộ sinh, kỹ thuật viên. Bác sỹ là người tham gia xây dựng phác đồ điều trị áp dụng trong bệnh viện; khám bệnh, điều trị bệnh theo chuyên khoa được đào tạo; tham gia nghiên cứu, đào tạo theo chuyên ngành của bản thân; khám chữa bệnh cho bệnh nhân 6 tại nơi làm việc, thảo luận với các bác sỹ Trưởng khoa và Giám đốc chuyên môn về tình hình, hiện trạng sức khỏe của bệnh nhân.
Dược sĩ là những người làm việc trong ngành dược (làm công tác chuyên môn về dược hoặc hành nghề dược). Dược sĩ có thể kết hợp với thầy thuốc hoặc nhân viên ý tế khác để quản lý bệnh tật thông qua việc theo dõi việc điều trị dùng thuốc hoặc giải thích các kết quả xét nghiệm lâm sàng. Điều dưỡng là người chăm sóc sức khỏe, theo dõi, kiểm tra tình trạng của bệnh nhân, hỗ trợ bác sĩ trong việc kê toa thuốc và một số công việc khác theo sự phân công của bác sĩ phụ trách để quá trình điều trị của bệnh nhân được diễn ra nhanh chóng và thuận lợi nhất. Nữ hộ sinh là chuyên viên trong ngành sản phụ khoa có nhiệm vụ giúp cho sản phụ sinh đẻ và thăm khám trẻ sơ sinh sau khi chào đời.
Kỹ thuật viên làm việc dưới sự giám sát của các bác sĩ để thực hiện các kỹ thuật xét nghiệm, chụp XQ, chụp CT…từ đó cung cấp đầy đủ thông tin hơn giúp bác sĩ chẩn đoán chính xác và điều trị bệnh hiệu quả cho bệnh nhân. Các học thuyết liên quan đến tạo động lực làm việc Nhân viên làm việc trong một tổ chức có những sở thích và nguyện vọng riêng của họ. Người lao động sẽ trở nên gắn bó hơn và nỗ lực hơn với công việc nếu như những mong muốn, nguyện vọng của họ được thoả mãn. Vì vậy, khuyến khích người lao động làm việc đã trở thành một trong những nội dung quan trọng hàng đầu trong quản trị nguồn nhân lực.
Có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về tạo động lực trong lao động trong các học thuyết. Tuy nhiên, tất cả các học thuyết đều có chung một quan điểm là việc tăng cường động lực với người lao động sẽ dẫn đến nâng cao hiệu quả trong công việc và sự phát triển của tổ chức. Dưới đây là một số thuyết cơ bản về tạo động lực. Học thuyết về thứ bậc nhu cầu của Abraham Maslow Tháp nhu cầu Malow được giới thiệu bởi nhà tâm lý học Abraham Maslow, giúp giải thích thứ bậc nhu cầu của con người.
Ông nói rằng con người 7 có nhiều nhu cầu khác nhau cần được đáp ứng và ông chia những nhu cầu này thành năm nhóm nhu cầu cơ bản khác nhau từ nhu cầu cấp thấp đến cấp cao như sau: Hình 1.1: Tháp nhu cầu của Maslow Nguồn: Maslow (1943) Nhu cầu sinh lý: Đây là nhu cầu tối thiểu nhất của con người để duy trì sự sống. Bao gồm nhu cầu vê oxy, thức ăn, nước uống, bài tiết, vận động, nghỉ ngơi và các điều kiện cơ sở vật chất thiết yếu để làm việc. Nhu cầu an toàn: Đây là nhu cầu tiếp theo sau nhu cầu sinh lý của con người. Nhu cầu an toàn bao gồm bảo vệ khỏi bạo lực và cướp bóc, sự ổn định về cảm xúc và hạnh phúc, an toàn về sức khoẻ và tài chính.
Nhu cầu xã hội: Đây là nhu cầu thứ ba của con người liên quan đến nhu cầu về tương tác giữa con người và tình yêu. Nhu cầu này bao gồm các mối quan hệ bạn bè và gia đình – cả quan hệ ruột thịt (bố mẹ, anh em, con cái) và quan hệ lựa chọn (vợ chồng, bạn đời). Thêm vào đó, là nhu cầu là thành viên trong các nhóm xã hội, nhóm đồng nghiệp, công đoàn, câu lạc bộ hoặc những người cùng sở thích. Nhu cầu được tôn trọng: Đây là nhu cầu cao hơn, bắt đầu từ nhu cầu 8 được tôn trọng và nhu cầu tự tôn.