Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO VIÊN CHỨC KHỐI PHÒNG, BAN Ở CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP TRONG LĨNH VỰC Y TẾ 1. Một số khái niệm liên quan 1. Động lực Có nhiều cách hiểu khác nhau về động lực làm việc do vậy córất nhiều định nghĩa khác nhau, cụ thể: Theo Vroom (1964), động lực là trạng thái hình thành khi người lao động tin rằng họ sẽ nhận được kết quả, phần thưởng theo mong muốn nếu họ nỗ lực thực hiện công việc Theo Mitchell (1982), động lực là mức độ mà một cá nhân muốn có được và lựa chọn để phù hợp với hành vi của mình Theo Robbins (1993), động lực là quá trình phát triển để tăng khả năng thực hiện mục tiêu cao nhất của tổ chức, với điều kiện là tổ chức phải có khả năng đáp ứng một vài nhu cầu nhất định Theo Mullins (2007), động lực có thể được định nghĩa như là một động lực bên trong có thể kích thích cá nhân cố gắng thực hiện hành động nhằm đáp ứng một số nhu cầu hoặc mong muốn Từ các nghiên cứu trên có thể hiểu: “Động lực là sự thôi thúc, khuyến khích con người thực hiện những hành vi theomục tiêu”. Động lựclàm việc Hiện nay, động lực lao độngcó nhiều những quan niệm khác nhau.
Chẳng hạn, Robbins (1998) khi phân tích về hành vi tổ chức, động lực cá nhân là sự tự nguyện cố gắng ở mức cao để hướng tới các mục tiêu của tổ 11 chức, được tạo ra từ kết quả của các nỗ lực cá nhân nhằm đáp ứng một số yêu cầu nhất định. Động lực trong lao động là quá trình rèn luyện, phấn đấu của chính bản thân mỗi người lao động tạo ra. Như vậy, mục tiêu của các doanh nghiệp là để làm sao tạo ra những động lực để người lao động có thể làm việc với năng suất cao nhất đóng góp cho doanh nghiệp. Theo chuyên đề Hành vi tổ chức của TS.
Bùi Anh Tuấn: "Động lực lao động là những nhân tố ở bên trong nhằm kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện có thể tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực lao động là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tập thể cũng như của bản thân của người lao động"[17]. Theo giáo trình Quản trị nhân lực (2012) của tác giả Nguyễn Văn Điềm và Nguyễn Ngọc Quân: "Động lực lao động là sự khát khao và tự nguyện của người lao động nhằm tăng cường nỗ lực để hướng tới việc đạt được các mục tiêu của tổ chức"[18]. Từ những quan niệm trên chúng ta có thể rút ra được khái niệm: “Động lực làm việc là sự thôi thúc, khuyếnkhích con người nỗ lực thực hiện những hành vi hướng tới theo mục tiêu của tổ chức”.
Tạo động lực làm việc Theo tác giả Nguyễn Trang Thu trong bài viết "Tạo động lực công việc đối với người lao động trong công ty” động lực tạo raqua việc động viên trực tiếp nhằm khích lệ, gia tăng nhu cầu lao động của người lao động, mong muốn có được động lực thì phải tạo động lực.Tạo động lực cho người lao động là quá trình áp dụng các biện pháp thích hợp để thúc đẩy người lao động làm việc một cách tự giác, tích cực, sáng tạo và có kết quả cao trong lao động. Đối với người lao động thì lợi ích có được từ lao động phải đáp ứng được nhu cầu của họ về vật chất hoặc tinh thần. Đối với nhà quản lý thì “tạo 12 động lực là sự vận dụng các chính sách, cơ chế, công cụ, phương thức để tác động đến người lao động có mục đích nhằm kích thích tinh thần lao động và sáng tạo trong công việc để triển khai có hiệu quả mọi tiềm năng của người lao động đối với công việc". Tạo động lực làm việc là tổng hợp các biện pháp và cách hành xử của tổ chức, các nhà quản lý nhằm tạo ra sự khát khao cống hiến, sự tự nguyện của người lao động, thôi thúc họ phải nỗ lực, cố gắng phấn đấu để đạtđược các mục tiêu mà tổ chức đề ra.
Tạo động lực làm việc cho viên chức các phòng, ban ở các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực y tế 1.1 Khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập Đơn vị sự nghiệp công lập (gọi tắt là ĐVSNCL) chính là các tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, chính trị - xã hội thành lập theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền, thực hiện các dịch vụ công nhằm phục vụ quản lý nhà nước trong lĩnh vực về y tế,lao động - thương binh và xã hội, văn hóa, giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học, thể dục thể thao, thông tin truyền thông và những lĩnh vực chuyên môn khác do pháp luật quy định. Đơn vị sự nghiệp công lập bao gồm: ĐVSNCL được giao quyền tự chủ hoàn toàn. ĐVSNCL không được tự chủ hoàn toàn. Đơn vị sự nghiệp thông thường là những trung tâm nghiên cứu, cung cấp dịch vụ đào tạo, giáo dục, y tế,… thuộc cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền.
Đơn vị sự nghiệp thông thường được chia theo loại như sau: - Đơn vị thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ; - Đơn vị thuộc Tổng cục, Cục; 13 - Đơn vị thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; - Đơn vị trực thuộc cơ quan chuyên môn của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh; - Đơn vị thuộc Uỷ ban nhân dâncấp huyện. Đặc điểm của đơn vị sự nghiệp công lập Đơn vị sự nghiệp công lập là nhà nước đầu tư và xây dựng để hoạt động, tuỳ thuộc theo từng loại đơn vị sự nghiệp mà nhà nước có sự hỗ trợ kinh phí theo từng mức khác nhau. Các đơn vị sự nghiệp công được thành lập với mục đích cung cấp dịch vụ sự nghiệp công trong lĩnh vực nhà nước có khả năng cung cấp cho nhân dân các lĩnh vực mà khu vực phi nhà nước không có khả năng đầu tư hoặc không quan tâm để đầu tư. Cơ chế hoạt động của các tổ chức sự nghiệp công lập đang dần được thay đổi theo hướng doanh nghiệp sẽ được thực hiện hạch toán một cách độc lập.
Các đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động phải đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ, tránh các trường hợp lạm quyền, vượt quyền. Nhân sự tại đơn vị sự nghiệp công lập thường được sắp xếp theo vị trí việc làm, theo chức vụ, được quản lý, sử dụng tư cách là viên chức. Luận văn này nghiên cứu về tạo động lực làm việc cho khối viên chức bệnh viện Bạch Mai- Đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ Y tế, được giao quyền tự chủ hoàn toàn. Đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực y tế Đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực y tế là tổ chức do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập và quản lý theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, con dấu, tài khoản và tổ chức bộ máy kế toán theo quy định của pháp luật về kế toán để thực hiện nhiệm vụ cung cấp dịch vụ công hoặc phục vụ quản lý nhà nước trong các lĩnh vực chuyên môn y tế như: Y tế dự phòng, khám bệnh, chữa bệnh; điều dưỡng và phục hồi chức năng; giám định 14 y khoa, pháp y, pháp y tâm thần, y dược cổ truyền; kiểm nghiệm dược, mỹ phẩm, trang thiết bị y tế; an toàn vệ sinh thực phẩm; dân số - kế hoạch hóa gia đình; sức khỏe sinh sản; truyền thông giáo dục sức khỏe.
Chính vì vậy, sự nghiệp y tế là hết sức quan trọng, lấy mục tiêu chăm sóc và nâng cao sức khỏe toàn dânđể góp phần phát triển kinh tế, ổn định an sinh xã hội, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Các ĐVSNCL y tế là cầu nối thực hiện những chủ trương của Nhà nước về chăm sóc sức khỏe nhân dân, xây dựng hệ thống y tế công bằng, chất lượng, hiệu quả.Cắt giảm lệ phí y tế, miễn phí bảo hiểm y tế là cách mà Nhà nước hỗ trợ người nghèo,người già, trẻ nhỏ. Các đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực y tế là một công cụ để giúp nhà nước có thể ổn định thị trường của các dịch vụ y tế công cộng, đảm bảo cho mọi người dân có cơ hội tiếp cận với những dịch vụ khám, chữa bệnh giá rẻ, hợp lí, phù hợp với mọi tầng lớp trong xã hội, ai cũng có quyền được chăm sóc sức khỏe, khám và chữa bệnh theo nhu cầu chính đáng của mỗi người dân. Viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập thuộc lĩnh vực y tế 1.
Khái niệm viên chức tại Việt Nam: Theo Điều 2, Luật Viên chức số 58/2010/QH12 Viên chức được quy định như sau: “Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của Chính phủ” * Đặc điểm chung của viên chức: + Là công dân Việt Nam. + Chế độ làm việc: Viên chức làm việc theo hạng và được phân theo 4 hạng viên chức khác nhau,được tuyển dụng,làm việc theo chế độ hợp đồng làm việc. Viên chức được đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc hoặc đơn 15 vị sự nghiệp công lập được đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc với viên chức theo quy định tại Luật Viên chức. + Việc tuyển dụng: phải dựa trên yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp của đơn vị sự nghiệp công lập và phù hợp với chỉ tiêu biên chế được giao.
+ Làm việc tại các đơn vị sự nghiệp công lập. + Hưởng lương và các loại phụ cấp, thưởng theo quy định hiện hành đối với ĐVSNCL. + Về thời gian làm việc: Thời gian làm việc của viên chứcđược tính bắt đầu từ khi được tuyển dụng.Hợp đồng làm việc của viên chứctheo quy định của Bộ luật Lao động, hợp đồng có hiệu lực cho đến khi hết hợp đồng làm việc hoặc đến tuổi nghỉ hưu. + Hình thức kỷ luật:Viên chức bị kỉ luật theo các trường hợp được quy định tại Luật Viên chức, các hình thức bao gồm:khiển trách, cảnh cáo, cách chức và buộc thôi việc (không có hình thức hạ bậc lương, giáng chức).