PHẦN MỞ ĐẦU: 1. Lý do lựa chọn chủ đề của đề án Nguồn nhân lực là tài sản quan trọng nhất của mỗi quốc gia, góp phần trực tiếp vào sự phát triển và tiến bộ của xã hội. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế, quốc tế như hiện nay, sự phát triển của các doanh nghiệp trở thành yếu tố then chốt góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế đất nước. Nhân lực trong doanh nghiệp luôn là trọng tâm của chiến lược phát triển.
Để khai thác tối đa năng lực của NLĐ, góp phần vào sự phát triển chung việc thúc đẩy động lực làm việc cho NLĐ là một trong những giải pháp có ý nghĩa quan trọng và cần thiết. Để phát huy tối đa hiệu quả của nguồn nhân lực, việc TĐL làm việc cho người lao động là vô cùng cần thiết, vì khả năng và động lực làm việc của họ đóng vai trò quyết định đến hiệu quả hoạt động và sức cạnh tranh của doanh nghiệp (Werner và cộng sự, 2012). Người có động lực cao sẽ làm việc với sự cống hiến, kiên trì, sáng tạo, mang lại năng suất và chất lượng tốt. Ngược lại, người thiếu động lực sẽ không chỉ làm việc kém hiệu quả mà còn có xu hướng tránh công việc hoặc rời bỏ tổ chức khi có cơ hội (Ganta, 2014).
Điều này cho thấy, khi các yếu tố khác không đổi, động lực làm việc có thể nâng cao năng suất và hiệu quả công việc (Phạm Thúy Hương và Phạm Thị Bích Ngọc, 2016), tạo ra lợi thế cạnh tranh và phát triển cho doanh nghiệp (Park và Word, 2012). Việc thúc đẩy động lực làm việc sẽ góp phần định hướng hành vi của người lao động, khuyến khích họ nỗ lực hơn để đạt hiệu quả công việc tốt hơn. Các nghiên cứu của Seniwoliba (2014), Park và Word (2012), Kim (2011), Dieleman và cộng sự (2002) đã khẳng định rằng “động lực làm việc không chỉ ảnh hưởng đến hành vi mà còn thúc đẩy nhân viên vượt qua thách thức để đạt được mục tiêu cá nhân và tổ chức”. Trong bối cảnh của Viettel hiện nay, Tập đoàn đã luôn chú trọng, đầu tư phát triển NNL một cách khoa học, có lộ trình rõ ràng và xây dựng các chính sách cho nhân lực một cách hợp lý, có tính cạnh tranh cao, thúc đẩy NLĐ làm việc hiệu quả, nâng cao trải nghiệm nhân viên.
VTP là một đơn vị thuộc Viettel, kinh doanh trong lĩnh vực chuyển phát, bưu chính, quảng cáo, dịch vụ, … đã không ngừng chú trọng tới các biện pháp thúc đẩy động lực làm việc của NLĐ trong công ty, trong đó khối cơ quan là bộ phận đầu não có nhiệm vụ tham mưu, dẫn dắt các đơn vị trong VTP cùng thực hiện sứ mệnh của mình, cùng góp phần vào sự phát triển chung của VTP. Trong quá trình làm việc trực tiếp tại Khối cơ quan Tổng Công ty, tôi nhận thấy rằng TĐL làm việc cho CBNV nói chung, CBNV tại Khối cơ quan VTP nói riêng đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận, tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn tồn tại một số 2 hạn chế cần phải hoàn thiện. Để nghiên cứu, làm rõ vấn đề, tôi lựa chọn chủ đề của đề án: “TĐL làm việc cho người lao động tại KCQ VTP” để nghiên cứu. Mục tiêu và nhiệm vụ của đề án * Mục tiêu nghiên cứu: Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện TĐL làm việc cho người lao động tại KCQ VTP.
* Nhiệm vụ của đề án - Hệ thống hoá cơ sở xây dựng đề án trong đó hệ thống cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn và cơ sở pháp lý về TĐL làm việc cho người lao động trong doanh nghiệp. - Nội dung của đề án nghiên cứu thực trạng TĐL làm việc cho người lao động tại KCQ VTP, rút ra những kết luận và đề xuất các giải pháp hoàn thiện TĐL làm việc cho NLĐ tại KCQ VTP. - Các đề xuất và kiến nghị thực hiện đề án, đưa ra bối cảnh xây dựng đề án và một số kiến nghị về điều kiện thực hiện đề án tại KCQ VTP. Đối tượng và phạm vi của đề án * Đối tượng nghiên cứu: TĐL làm việc cho người lao động của doanh nghiệp nói chung, người lao động tại KCQ VTP nói riêng.
Đối tượng nghiên cứu trong đề án bao gồm CBNV tại Khối cơ quan VTP (Sĩ quan, QNCN, CNVCQP, HĐLĐ). * Phạm vi của đề án - Phạm vi về thời gian: Đề án nghiên cứu TĐL làm việc cho người lao động trong giai đoạn 2021-2023 và thực tiễn đang diễn ra trong năm 2024. - Phạm vi về không gian: KCQ VTP (địa chỉ tại Số 1, ngõ 13 Duy Tân, Cầu Giấy, Hà Nội) - Về nội dung nghiên cứu: Đề án tập trung nghiên cứu vào hoạt động TĐL làm việc cho NLĐ tại KCQ VTP, cụ thể: (1) Tiếp cận nghiên cứu: Đề án tiếp cận nghiên cứu ngành Quản trị nhân lực. (2) Khách thể nghiên cứu: CBCNV, NLĐ đang làm việc tại KCQ VTP bao gồm SQ, QNCN, CNVCQP và HĐLĐ.
(3) Nội dung nghiên cứu: Đề án tập trung nghiên cứu thực trạng TĐL làm việc cho người lao động tại KCQ VTP. Chỉ ra các yếu tố tác động đến TĐL làm việc cho người lao động tại KCQ VTP. Đánh giá và đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm TĐL làm việc cho người lao động tại KCQ VTP. Đề án xác định bối cảnh thực hiện, phân công trách nhiệm thực hiện đề án và đề xuất các điều kiện thực hiện giải pháp.
Quy trình và phương pháp thực hiện đề án * Quy trình nghiên cứu (1) Đề án tiến hành nghiên cứu, hệ thống hoá cơ sở lý luận về TĐL làm việc cho người lao động trong doanh nghiệp 3 (2) Nghiên cứu tài liệu thứ cấp thu thập được tại KCQ VTP bao gồm các tài liệu như báo cáo công tác tổ chức lao động năm 2021, 2022, 2023, 6 tháng đầu năm 2024; Báo cáo kết quả khảo sát trải nghiệm nhân viên năm 2022, 2023; Báo cáo tài chính, … Tác giả cũng tiến hành phân tích, nghiên cứu tài liệu sơ cấp thông qua khảo sát bảng hỏi, phỏng vấn thu thập được trong quá trình nghiên cứu, làm việc tại Khối cơ quan Tổng Công ty. (3) Từ những đánh giá trong quá trình nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm TĐL làm việc cho người lao động tại KCQ VTP. * Phương pháp nghiên cứu Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp Tác giả đã thu thập, nghiên cứu các tài liệu thứ cấp thu thập được tại Tổng Công ty Cổ phần Bưu chính Viettel như các báo cáo về công tác tổ chức lao động, công tác tài chính, công tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực trong các năm từ 2021- 2023 và thực hiện năm 2024. Bên cạnh đó, đề án cũng đã nghiên cứu các tài liệu là sách, báo, giáo trình liên quan đến TĐL làm việc cho người lao động.
Phương pháp thu thập tài liệu sơ cấp Phương pháp điều tra, khảo sát: Tác giả đã nghiên cứu thực trạng TĐL làm việc cho người lao động thông qua việc phát phiếu điều tra, khảo sát 186/585 (31,8% nhân sự) CBNV KCQ VTP về mức độ hài lòng của CBNV đối với các hoạt động trong công ty. Với số lượng khảo sát bảo đảm tính đại diện của mẫu nghiên cứu, đánh giá thực trạng tạo động lực làm việc cho NLĐ tại KCQ VTP. Phỏng vấn trực tiếp 3 nhóm đối tượng tại Khối cơ quan TCT bao gồm 02 người thuộc Ban Tổng Giám đốc, 03 người là Trưởng phòng TCT và và 05 người là nhân sự có kinh nghiệm thâm niên làm việc tại KCQ VTP để lắng nghe những ý kiến, quan điểm, đánh giá về công cụ TĐL làm việc tại TCT. Bên cạnh đó, tác giả tiến hành phân tích, xử lý dữ liệu qua các phương pháp: Phương pháp phân tích: Tác giả đã phân tích các số liệu, tài liệu thu thập được và đánh giá các đặc điểm về nguồn nhân lực về quy mô, cơ cấu, các kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
TĐL làm việc cho người lao động trong khối cơ quan được thực hiện như thế nào và hợp lý chưa? Để từ đó tìm ra điểm mạnh, điểm yếu, nguyên nhân dẫn đến chúng nhằm đưa ra các giải pháp thích hợp hoàn thiện TĐL làm việc cho người lao động thuộc Khối cơ quan tại Công ty. Phương pháp tổng hợp: Phương pháp sử dụng để nghiên cứu, phân tích các tài liệu, sách, luận án, các bài báo… về vấn đề TĐL làm việc cho người lao động trong doanh nghiệp, trong Tổng Công ty Cổ phần Bưu chính Viettel. 4 Phương pháp thống kê: Tác giả đã thống kê các dữ liệu liên quan đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh thu thập được, số lượng, chất lượng nhân lực, các chương trình đào tạo, các chương trình và chính sách phúc lợi, … từ đó đánh giá thực trạng tác động đến động lực làm việc của CBNV. Phương pháp so sánh: So sánh các kết quả thu thập được về sự biến động nhân lực, thay đổi về quy mô, cơ cấu nhân lực, số lượng các chương trình đào tạo, chi phí đào tạo, … qua các năm từ 2021-2023, đánh giá sự tăng, giảm và nhận xét về sự tác động lên động lực làm việc của các công cụ.
Kết cấu đề án Bên cạnh lời cam đoan, lời cảm ơn, tóm tắt nội dung đề án, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, phần nội dung chính của đề án tốt nghiệp gồm: Phần 1. Cơ sở xây dựng đề án Phần 2. Nội dung của đề án. Các đề xuất và kiến nghị 5 PHẦN 1: CƠ SỞ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm “Động lực làm việc” Theo tác giả Mai Thanh Lan, Nguyễn Thị Minh Nhàn (2016, 232): “Động lực làm việc là những mong muốn, khao khát của người lao động được kích thích để họ nỗ lực hoạt động nhằm đạt được những mục tiêu nhất định của cá nhân và doanh nghiệp”. Theo đó, động lực làm việc có mối liên hệ chặt chẽ với công việc và với doanh nghiệp.
Mỗi cá nhân khi tham gia vào một doanh nghiệp đều phải thực hiện những nhiệm vụ cụ thể. Mặc dù người lao động có thể hoàn thành công việc mà không cần động lực, nhưng nếu họ làm việc với niềm đam mê, tự nguyện và mong muốn cao, thì năng suất và hiệu quả sẽ được nâng cao đáng kể. Động lực làm việc và động cơ cá nhân là hai khái niệm thường gây tranh luận và dễ bị nhầm lẫn trong nghiên cứu cũng như trong quản lý doanh nghiệp.