Chương 1: Cơ sở lý luận tạo động lực lao động trong doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng tạo động lực lao động tại Công ty cổ phần Thiết bị - Vật tư - Y tế Thanh Hóa Chương 3: Một số giải pháp tăng cường tạo động lực lao động tại Công ty cổ phần Thiết bị - Vật tư - Y tế Thanh Hóa 5 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm 1. Nhu cầu, lợi ích, động cơ và động lực - Nhu cầu Trong doanh nghiệp bên cạnh các nguồn lực nhƣ tài chính, thông tin, quy trình sản xuất - công nghệ, năng lực quản lý kinh doanh,… thì nguồn nhân lực là một yếu tố quan trọng góp phần duy trì sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp. Theo tác giả Lê Thanh Hà (2009), “Nhân lực (hay còn được gọi là nguồn nhân lực) được hiểu là nguồn lực trong mỗi con người chúng ta, bao gồm thể lực và trí lực và được biểu hiện ra bên ngoài bởi khả năng làm việc của mỗi con người, nó cũng bao gồm cả sức khỏe (chiều cao, cân nặng, sức bền thể lực,…), trình độ (kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm), tâm lý, ý thức, mức độ cố gắng” [6].
Có thể hiểu nguồn lực trong mỗi con ngƣời là không có giới hạn và nguồn lực này đƣợc phát huy nhƣ thế nào phụ thuộc và từng trƣờng hợp cụ thể. Do đó, nguồn nhân lực của tổ chức là nguồn lực của toàn bộ cán bộ, công nhân viên lao động trong tổ chức đó đƣợc đặt trong mối quan hệ chung nhằm phục vụ cho mục tiêu chung của tổ chức. Theo tác giả Dƣơng Thị Liễu (2012) "Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển" [7]. Hệ thống nhu cầu của con ngƣời cơ bản nó đƣợc chia thành 3 nhóm chính là: nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh thần và nhu cầu xã hội.
Nhu cầu của con ngƣời luôn luôn biến đổi tùy theo từng con ngƣời cụ thể và trong từng hoàn cảnh nhất định. Nhu cầu là yếu tố thúc đẩy con ngƣời hoạt động; Nhu cầu càng cấp bách thì khả năng chi phối con ngƣời càng cao. Do đó, kiểm soát đƣợc nhu cầu đồng nghĩa với việc có thể kiểm soát đƣợc cá nhân. Về mặt quản lý, việc thoả mãn nhu cầu nào đó của cá nhân đồng thời tạo ra một nhu cầu khác theo định hƣớng của nhà quản lý sẽ giúp ngƣời quản lý có thể điều khiển đƣợc các cá nhân.
6 - Lợi ích "Lợi ích là mức độ đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần do công việc đó tạo ra" (Nguyễn Thành Độ và Nguyễn Ngọc Huyền, 2011). Từ quan niệm trên thì lợi ích đƣợc hiểu là thành quả mà ngƣời lao động nhận đƣợc bằng vật chất hay tinh thần thông việc họ tham gia sản xuất hoặc các hoạt động khác trong tổ chức cũng nhƣ trong xã hội. Với nhu cầu vật chất, việc thỏa mãn đƣợc chúng phụ thuộc vào tiền lƣơng, tiền công, tiền thƣởng,… (hay còn đƣợc gọi là thu nhập) mà ngƣời lao động nhận đƣợc từ ngƣời sử dụng lao động. Với nhu cầu tinh thần, việc thỏa mãn nhu cầu này khác nhau lại khác nhau giữa những nhà quản lý, tập thể ngƣời lao động.
Xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu về các giá trị tinh thần cũng nâng cao nhƣ là nhu cầu học tập để nâng cao trình độ hiểu biết; Nhu cầu thẩm mỹ và giao tiếp xã hội; Nhu cầu công bằng xã hội [5]. Lợi ích có vai trò to lớn trong hoạt động quản lý, trong hoạt động lao động của con ngƣời, tạo ra động lực mạnh mẽ cho các hoạt động của con ngƣời, buộc con ngƣời phải động não, cân nhắc, tìm tòi nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình. Các nhà quản trị doanh nghiệp khi tìm hiểu đƣợc tâm lý lợi ích của ngƣời lao động sẽ có những biện pháp phù hợp để khuyến khích ngƣời lao động hăng say làm việc đạt hiệu quả công việc tốt nhất. - Động cơ "Động cơ lao động của người lao động xuất phát từ việc mong muốn thỏa mãn các nhu cầu thiết yếu cơ bản của người lao động như: nhu cầu ăn, ở, đi lại, phát triển, được tôn trọng.
Mỗi ngƣời lao động khác nhau lại có động cơ khác nhau, những ngƣời có động cơ lao động cao, họ sẽ cố gắng nhiều hơn trong công việc và sẽ có năng suất, chất lƣợng cao và ngƣợc lại, khi không có hoặc có ít động cơ lao động, năng suất hiệu quả công việc sẽ thấp [5]. Động cơ là kết quả của sự tƣơng tác giữa các cá nhân và tình huống, có tác dụng chi phối 7 thúc đẩy ngƣời ta suy nghĩ và hành động. Các cá nhân khác nhau có động cơ khác nhau, mức độ thúc đẩy của động cơ cũng khác nhau trong các tình huống khác nhau và động cơ rất trừu tƣợng, khó xác định bởi. Hơn nữa động cơ luôn biến đổi (theo môi trƣờng sống và theo thời gian), tại mỗi thời điểm con ngƣời có những yêu cầu và động cơ làm việc khác nhau.
Vậy để nắm bắt đƣợc động cơ thúc đẩy để ngƣời lao động làm việc phải xét đến từng thời điểm cụ thể môi trƣờng cụ thể và đối với từng cá nhân ngƣời lao động. - Động lực Theo tác giả Nguyễn Vân Điềm & Nguyễn Ngọc Quân (2007), “Động lực là sự khao khát và tự nguyện của con người để nâng cao mọi nỗ lực của mình nhằm đạt được mục tiêu hay kết quả cụ thể nào đó”. Có thể thấy khi con ngƣời ở những vị trí khác nhau, với những đặc điểm tâm lý khác nhau sẽ có những mục tiêu mong muốn khác nhau. Chính vì những đặc điểm này nên động lực của mỗi con ngƣời là khác nhau vì vậy mà nhà quản lý cần có những các tạo động lực khác nhau đến mỗi ngƣời lao động.
Đồng quan điểm trên, tác giả Bùi Anh Tuấn (2011) cho rằng“Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động” [11]. Nhƣ vậy, động lực là động cơ thúc đẩy tất cả các hành động của con ngƣời. Đây là một trạng thái nội tại, cung cấp sinh lực và hƣớng con ngƣời vào những hành vi có mục đích.
Nền tảng của động lực là các cảm xúc, mà cụ thể, nó dựa trên sự né tránh, những trải nghiệm cảm xúc tiêu cực và tìm kiếm những cảm xúc tích cực. Quan điểm về tích cực hay tiêu cực của mỗi ngƣời rất khác nhau và phụ thuộc vào các quy tắc xã hội. Động lực có vai trò rất quan trọng bởi nó tham gia vào tất cả các khía cạnh của đời sống. Nhà quản lý cần tìm ra yếu tố nào bên trong ngƣời lao động của mình giúp họ làm việc tích cực, tạo ra động lực thúc đẩy họ tham gia lao động.
Tạo động lực lao động Khái niệm về tạo động lực Theo tác giả Nguyễn Thành Độ và Nguyễn Ngọc Huyền (2011), "Tạo động lực lao động là hệ thống các biện pháp, chính sách, cách ứng xử của tổ chức tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động hài lòng hơn với công việc và nỗ lực phấn đấu để đạt được các mục tiêu của bản thân và tổ chức" [5]. Tác giả Lê Thanh Hà (2009) đồng tình với quan điểm trên nhƣng diễn giải sâu hơn về các biện pháp kích thích động lực của ngƣời lao động cho rằng“Tạo động lực lao động là tổng hợp các biện pháp và cách hành xử của tổ chức, nhà quản lý để tạo ra sự khát khao, tự nguyện của người lao động buộc họ phải nỗ lực, cố gắng phấn đấu nhằm đạt được các mục tiêu mà tổ chức đề ra. Các biện pháp được đặt ra có thể là các đòn bẩy kích thích về vật chất, tinh thần, cách hành xử của tổ chức được thể hiện ở điểm tổ chức đó đối xử lại với người lao động như thế nào” [6]. Do đó, tạo động lực lao động đƣợc hiểu là những hoạt động có tính chất khuyến khích động viên nhằm tác động vào nhu cầu của ngƣời lao động để tạo nên sự chuyển biến trong hành vi của họ hƣớng theo những mục tiêu mà tổ chức mong muốn.
Tạo động lực làm nảy sinh động lực trong mỗi doanh nghiệp. Các nhà quản trị trong tổ chức muốn phát triển doanh nghiệp mình vững mạnh thì phải vận dụng các chính sách, biện pháp, các công cụ quản lý thích hợp tác động đến ngƣời lao động nhằm làm cho ngƣời lao động hăng say làm việc, phát huy tính sáng tạo trong quá trình làm việc để đóng góp cho tổ chức. Vấn đề quan trọng của tạo động lực là hiểu đƣợc nhu cầu của ngƣời lao động, để từ đó có biện pháp kích thích, tạo ra động lực cho ngƣời lao động hăng say, nỗ lực trong quá trình làm việc. Vai trò của tạo động lực lao động Tạo động lực lao động có vai trò hết sức to lớn, quyết định sự tồn tại, phát triển của tổ chức bởi lẽ: Nhờ có tạo động lực, ngƣời lao động sẽ có những hành vi tích cực trong việc hoàn thiện mình thông qua công việc.
Khi 9 ngƣời lao động có động lực làm việc tích cực, họ sẽ hăng say làm việc, tạo ra nhiều giá trị thặng dƣ hơn cho doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp ổn định, phát triển bền vững và vƣơn lên. Bên cạnh tìm đầu ra cho doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp tồn tại, phát triển thì tạo động lực lao động cho lao động luôn là vấn đề đƣợc các doanh nghiệp quan tâm, chú trọng. Những câu hỏi mà doanh nghiệp cần tìm lời giải đáp thỏa đáng trong mỗi giai đoạn xoay quanh các vấn đề về chính sách tiền lƣơng, thƣởng; vị trí công việc phù hợp; chế độ quan tâm chăm sóc đến ngƣời lao động;… Những yếu tố này sẽ quyết định đến mức độ hăng hái làm việc hay trì trệ, bất mãn và kết quả cuối cùng sẽ ảnh hƣởng tới năng suất lao động chung của toàn doanh nghiệp. Ý nghĩa của tạo động lực lao động Đối với mỗi doanh nghiệp mục tiêu cơ bản và quan trọng nhất chính là lợi nhuận (hiệu quả sản xuất kinh doanh).
Để thực hiện đƣợc mục tiêu đó thì phải cần đến nhiều yếu tố nhƣng yếu tố con ngƣời đóng vai trò quyết định.