phần mở đầu, kết luận, danh mục các bảng biểu, danh mục tài liệu tham khảo. Nội dung chính của luận bao gồm ba chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về tạo động lực làm việc cho ngƣời lao động trong doanh nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng tạo động lực làm việc cho ngƣời lao động tại Công ty Cổ phần 22. Chƣơng 3: Giải pháp đẩy mạnh tạo động lực làm việc cho ngƣời lao động tại Công ty Cổ phần 22.
6 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm liên quan. Khái niệm động lực làm việc Động lực Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về động lực: Theo Vroom (1964) động lực là trạng thái hình thành khi ngƣời lao động kỳ vọng rằng họ sẽ nhận đƣợc kết quả, phần thƣởng nhƣ mong muốn nếu họ nỗ lực thực hiện công việc. Theo Mitchell (1982) ông cho rằng: Động lực là một mức độ mà một cá nhân muốn đạt tới và lựa chọn để gắn kết các hành vi của mình Theo Robbins (1993) Động lực là sự sẵn sàng để phát huy nỗ lực đạt mục tiêu cao nhất của tổ chức, với điều kiện là tổ chức phải có khả năng đáp ứng một số nhu cầu cá nhân.
Theo Mullins (2007) Động lực có thể đƣợc định nghĩa nhƣ là một động lực bên trong có thể kích thích cá nhân nhằm đạt mục tiêu để thực hiện một số nhu cầu hoặc mong đợi. Động lực làm việc cho người lao động Theo tác giả Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (Giáo trình Quản trị nhân lực): “Động lực lao động là sự khát khao và tự nguyện của ngƣời lao động để tăng cƣờng nỗ lực nhằm hƣớng tới việc đạt mục tiêu của tổ chức”.[1,38] Động lực lao động xuất phát từ trong nội tại suy nghĩ của ngƣời lao động. Động lực lao động đƣợc thể hiện thông qua những công việc cụ thể mà mỗi ngƣời lao động đang đảm nhiệm và trong thái độ của họ đối với tổ chức. Mỗi ngƣời lao động đảm nhiệm một công việc khác nhau có thể có động lực lao động khác nhau để làm việc tích cực hơn.
Có thể rút ra một cách hiểu chung nhất về động lực lao động: Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con ngƣời tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, 7 nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức cũng nhƣ bản thân ngƣời lao động. Vấn đề tạo động lực lao động cho nhân lực nói chung và cho ngƣời lao động trong tổ chức nói riêng đã đƣợc nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Có thể hiểu rằng tạo động lực lao động chính là việc các nhà quản trị vận dụng một hệ thống các chính sách, biện pháp cách thức quản lý tác động tới ngƣời lao động nhằm làm cho ngƣời lao động có động lực trong công việc, thúc đẩy họ hài lòng hơn với công việc và mong muốn đƣợc đóng góp cho tổ chức, doanh nghiệp.
Khái niệm tạo động lực làm việc. Khi đã biết đƣợc động lực làm việc của ngƣời lao động là gì, thì điều đầu tiên cần làm của một nhà quản lý là phải đƣa ra các chính sách tạo động lực hợp lý, khuyến khích động viên ngƣời lao động hăng hái làm việc. Bởi một doanh nghiệp, một tổ chức chỉ có thể đạt đƣợc năng suất cao khi có những ngƣời làm việc sáng tạo và tích cực. Nhu cầu của con ngƣời là một hiện tƣợng tâm lý; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con ngƣời về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển.
Tùy theo trình độ nhận thức, môi trƣờng sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi ngƣời có những nhu cầu khác nhau. Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con ngƣời cảm nhận đƣợc. Nhu cầu là yếu tố thúc đẩy con ngƣời hoạt động. Nhu cầu càng cấp bách thì khả năng chi phối con ngƣời càng cao.
Về mặt quản lý, kiểm soát đƣợc nhu cầu đồng nghĩa với việc có thể kiểm soát đƣợc cá nhân. Lợi ích là kết quả mà con ngƣời nhận đƣợc qua các hoạt động của bản thân, cộng đồng, tập thể và xã hội nhằm thỏa mãn nhu cầu bản thân. Lợi ích chính là tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần mà mỗi cá nhân nhận đƣợc từ tổ chức. Nhƣ vậy có thể hiểu “Lợi ích là mức độ thoả mãn các nhu cầu về vật chất, tinh thần của con người trong những điều kiện cụ thể nhất định”.
[1,35] Cũng giống nhu cầu, có nhiều loại lợi ích khác nhau: lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần, lợi ích trƣớc mắt, lợi ích lâu dài, lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể…Giữa lợi ích và nhu cầu có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Nếu không có nhu cầu thì 8 không thể thoả mãn nhu cầu và lợi ích cũng không xuất hiện. Khi nhu cầu xuất hiện con ngƣời sẽ tìm cách để thoả mãn nhu cầu, kết quả của sự thoả mãn nhu cầu là lợi ích đạt đƣợc. Khi sự thoả mãn nhu cầu càng lớn, khoảng cách giữa nhu cầu và sự thoả mãn nhu cầu càng đƣợc rút ngắn thì lợi ích càng lớn.
Lợi ích đạt đƣợc càng cao thì động lực thôi thúc càng mạnh. Khi khoảng cách giữa nhu cầu và sự thoả mãn nhu cầu chƣa đƣợc rút ngắn thì nó còn thúc đẩy con ngƣời hành động để rút ngắn khoảng cách đó. Đó chính là động lực, động lực muốn rút ngắn khoảng cách đó để đem lại lợi ích cao nhất. Với cách hiểu nhƣ trên về động lực lao động, có thể hiểu tạo động lực chính là quá trình làm nảy sinh động lực lao động trong mỗi cá nhân ngƣời lao động.
“Tạo động lực lao động là hệ thống các biện pháp, chính sách, cách ứng xử của tổ chức tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực lao động trong công việc, thúc đẩy họ hài lòng hơn với công việc và nỗ lực phấn đầu để đạt được các mục tiêu của bản thân và tổ chức”. [2,33] Vậy thực chất của tạo động lực chính là việc xác định các nhu cầu của ngƣời lao động, thỏa mãn các nhu cầu hợp lý của ngƣời lao động làm tăng thêm lợi ích cho họ để họ có thể làm việc tích cực, tự giác, sáng tạo và hiệu quả nhất. Để có đƣợc động lực cho ngƣời lao động làm việc thì phải tìm cách tạo ra đƣợc động lực đó. Nhƣ vậy, tạo động lực trong lao động là sự vận dụng hệ thống các chính sách, các biện pháp, các công cụ quản lý thích hợp tác động đến ngƣời lao động nhằm làm cho ngƣời lao động có đƣợc động lực để làm việc từ đó thúc đẩy họ hài lòng với công việc, mong muốn và nỗ lực làm việc hơn nữa để đóng góp cho tổ chức.
Để có thể tạo đƣợc động lực cho ngƣời lao động ngƣời lãnh đạo cần phải tìm hiểu đƣợc ngƣời lao động làm việc nhằm đạt đƣợc mục tiêu gì từ đó thúc đẩy động cơ lao động của họ tạo động lực cho ngƣời lao động. Tổ chức sẽ phải tạo ra môi trƣờng làm việc, môi trƣờng sống, môi trƣờng giao tiếp nhƣ thế nào để ngƣời lao động cảm thấy thoải mái nhất, từ đó có động lực làm việc tốt nhất. Tổ chức sẽ phải 9 quan tâm đến ngƣời lao động những gì và quan tâm nhƣ thế nào, cần phải thiết lập hệ thống quản lý nhƣ thế nào để thực hiện đƣợc những ƣớc mơ, hoài bão và kế hoạch trong tƣơng lai của họ.Trả lời đƣợc những câu hỏi đó, tổ chức sẽ tạo đƣợc động lực lao động. Tuy nhiên, không phải tổ chức nào cũng có những câu trả lời hoàn hảo cho tất cả các câu hỏi đƣợc đặt ra, bởi nguồn lực của tổ chức là có hạn.
Vậy tổ chức sẽ phải lựa chọn ƣu tiên giải quyết những phạm vi nguồn lực hạn chế của mình để các chính sách, quyết định, các cách ứng xử,…có thể thực hiện đƣợc. Và cũng cần khẳng định rằng, muốn tạo sự phát triển trong tƣơng lai, tổ chức không thể không quan tâm đến vấn đề tạo động lực lao động. Các học thuyết tạo động lực lao động. Hệ thống thứ bậc các nhu cầu của Maslow.
Thuyết nhu cầu của Maslow dựa trên cách tiếp cận những nhu cầu cơ bản của con ngƣời. Theo Maslow, con ngƣời có 5 nhu cầu cơ bản, 5 nhu cầu đó tăng dần theo hình tháp. Abraham Maslow đã phát triển mô hình thang bậc nhu cầu mà cho đến bây giờ vẫn còn giá trị trong việc tìm hiểu quá trình rèn luyện quản lý động lực con ngƣời và phát triển cá nhân. Thực sự là ý tƣởng của Maslow xung quanh thang bậc nhu cầu đề cập tới trách nhiệm của ngƣời quản lý là phải tạo ra một môi trƣờng làm việc mà có thể khuyến khích cũng nhƣ cho phép phát huy (hiện thực hóa) tiềm năng độc đáo của ngƣời lao động giờ đây trở nên phù hợp hơn bao giờ hết.
Nếu công tác tạo động lực bị chi phối bởi các nhu cầu chƣa đƣợc đáp ứng thì việc ngƣời quản lý hiểu đƣợc đâu là nhu cầu quan trọng hơn đối với từng nhân viên sẽ có giá trị rất lớn. Về vấn đề này, Abraham Maslow đã phát triển một mô hình trong đó những nhu cầu cơ bản tối thiểu nhƣ những yêu cầu về sinh lý và an toàn phải đƣợc đáp ứng trƣớc khi theo đuổi những nhu cầu cao hơn ví dụ nhƣ đƣợc hoàn thành ƣớc nguyện của bản thân mình. Trong mô hình thang bậc nhu cầu này, khi một nhu cầu hầu nhƣ đã đƣợc đáp ứng thì các động lực cao hơn sẽ không còn nữa. Thang bậc nhu cầu của Maslow đƣợc thể hiện trong sơ đồ dƣới đây.
10 Nhu cầu tự hoàn thiện Nhu cầu đƣợc tôn trọng Nhu cầu xã hội Nhu cầu an toàn Nhu cầu sinh lý Hình 1. Sơ đồ tháp nhu cầu Nhu cầu về sinh lý Nhu cầu này còn đƣợc gọi là nhu cầu của cơ thể hoặc nhu cầu về sinh lý gồm các nhu cầu cơ bản nhƣ: không khí, nƣớc, thức ăn, ngủ, vv. Những nhu cầu này đều rất cần thiết cho cuộc sống của con ngƣời. Theo học thuyết của Maslow, nếu những nhu cầu này không đƣợc thỏa mãn thì động lực của con ngƣời sẽ nổi lên từ nhu cầu muốn thỏa mãn chúng.
Một ngƣời sẽ không có cảm giác cần những nhu cầu cao nhƣ nhu cầu xã hội và lòng tự tôn cho tới khi cá nhân đó đáp ứng đƣợc những nhu cầu cơ bản cho việc vận động của bản thân cơ thể mình.