lời mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được trình bày gồm 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về động lực và tạo động lực lao động Chƣơng 2: Phân tích thực trạng tạo động lực cho giảng viên ở trường Đại học Thăng Long. Chƣơng 3: Giải pháp tạo động lực cho giảng viên trường Đại học Thăng Long. 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỘNG LỰC VÀ TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG 1. Khái niệm, vai trò, mục đích và ý nghĩa của động lực và tạo động lực 1.
Một số khái niệm cơ bản 1. Độn ơ độn Động cơ được hiểu là một bộ phận quyết định sự chuyển động hay hành động. Vì vậy, động cơ lao động chính là các yếu tố bên trong người lao động, thúc đẩy người lao động làm việc, nó bắt nguồn từ nhu cầu bản thân, gia đình và xã hội [2, tr. Động cơ lao động rất khó nhận biết song việc nhận biết nó lại rất quan trọng và cần thiết, hiểu rõ những mong muốn của người lao động, biết được động cơ nào là cần thiết cho lợi ích của tổ chức, doanh nghiệp.
Động cơ sẽ giúp ta trả lời cho các câu hỏi: “Vì sao người lao động lại làm việc”. K n độn ự độn và tạ độn ự độn * Động lự động Trước khi xem xét động lực lao động là gì, cần phải hiểu thế nào là động lực. Theo Mitchell, động lực là một mức độ mà một cá nhân muốn đạt tới và lựa chọn để gắn kết các hành vi của mình. Theo Bolton: Động lực được định nghĩa như một khái niệm để mô tả các yếu tố được các cá nhân nảy sinh, duy trì và điều chỉnh hành vi của mình theo hướng đạt được mục tiêu.
Như vậy, động lực có tác động rất lớn đến kết quả thực hiện công việc của mỗi cá nhân. Theo giáo trình Quản trị nhân lực của Th. Nguyễn Vân Điềm – PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân “Động lực lao động là sự khát khao và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt mục tiêu của tổ chức” [6, tr. 6 Theo TS Bùi Anh Tuấn, trường Đại học Kinh tế quốc dân: “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất và hiệu quả cao.
Biểu hiện của động lực là sẵn sàng, nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động” [9, tr. Từ những định nghĩa trên ta có thể đưa ra một cách hiểu chung nhất về động lực như sau: Động lực là tất cả những gì nhằm thôi thúc, khuyến khích con người nỗ lực thực hiện những hành vi theo mục tiêu.Bản chất của động lực xuất phát từ nhu cầu và sự thoả mãn nhu cầu của con người. Giữa nhu cầu và sự thoả mãn nhu cầu có một khoảng cách nhất định và luôn có động lực để rút ngắn khoảng cách đó. * Tạ động lự động Trong sản xuất kinh doanh, muốn đạt hiệu quả cao thì bất kỳ tổ chức nào cũng cần phải có đội ngũ nhân viên mạnh.
Ngoài trình độ chuyên môn, đạo đức thì động lực làm việc là một trong những yếu tố quyết định đến năng suất và hiệu quả làm việc của người lao động. Có thể hiểu tạo động lực là quá trình làm nảy sinh động lực lao động trong mỗi cá nhân người lao động. Theo tiến sĩ Bùi Anh Tuấn trường đại học Kinh tế quốc dân: “Tạo động lực lao động được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong làm việc" [9, tr. Vậy thực chất của tạo động lực chính là việc xác định các nhu cầu của người lao động, thỏa mãn các nhu cầu hợp lý của người lao động, làm tăng thêm lợi ích cho họ để họ có thể làm việc tích cực, tự giác và hiệu quả nhất.
Tóm lại nhà quản lý của tổ chức cần xây dựng và thực thi hệ thống các chính sách, các biện pháp trong quản trị nguồn nhân lực nhằm tác động đến động lực của người lao động nhằm tạo ra năng suất, chất lượng lao động cao, 7 khả năng làm việc, chất lượng công việc, đồng thời người lao động tự hoàn thiện bản thân, phát huy, sáng tạo, cải tiến trong quá trình làm việc. Vai trò của tạo động lực trong quản trị nguồn nhân lực Hoạt động tạo động lực được xét trên ba khía cạnh: người lao động, tổ chức và xã hội. Đ vớ n ườ độn Người lao động có hứng thú trong công việc: được làm việc với sự thoải mái làm cho người lao động có được trạng thái tinh thần tốt, không ảnh hưởng tới sức khỏe nên họ có thể tìm được niềm vui trong công việc. Tái tạo sức lao động: Khi người lao động được nhận khuyến khích về vật chất thì đây cũng là một phần giúp tái tạo sức lao động, làm cho người lao động có tinh thần tốt hơn và muốn nhận được thêm những phần thưởng đó thì họ càng phải cố gắng.
Đ vớ tổ ứ Tăng năng suất lao động: người lao động có động lực làm việc thì họ sẽ cố gắng hoàn thành công việc được giao và có thể sáng tạo ra một số biện pháp cải tiến kỹ thuật làm tăng năng suất lao động. Từ đó tăng doanh thu và lợi nhuận cho tổ chức. Ổn định hoạt động sản xuất – kinh doanh: Khi người lao động được thỏa mãn nhu cầu thì họ sẽ yên tâm làm việc cho tổ chức, từ đó hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ ổn định. Thu hút và giữ chân nhân tài: Khi chính sách tạo động lực của tổ chức tốt thì sẽ thu hút được sự chú ý của người lao động có trình độ và năng lực.
Tối thiểu hóa các chi phí như: chi phí nguyên vật liệu, thời gian do người lao động tiết kiệm được; chi phí tuyển dụng, đào tạo mới do giảm thiểu việc người lao động thôi việc… Mối quan hệ trong tổ chức được cải thiện: Những quan hệ trong tổ chức đều có chiều hướng tốt nếu người lãnh đạo có phong cách lãnh đạo 8 đúng đắn và tạo động lực làm việc cho nhân viên kịp thời. Tinh thần làm việc, trách nhiệm được nâng cao: Khi những người lao động được quan tâm, khuyến khích làm việc, họ sẽ nhận thấy tầm quan trọng của công việc mình đang làm nên họ sẽ có trách nhiệm cao hơn trong công việc. Đ vớ xã ộ Khi động lực người lao động được phát huy làm cho năng suất lao động xã hội được tăng lên, từ đó kinh tế xã hội sẽ tăng trưởng theo. Đồng thời, khi đó con người sẽ cảm thấy yêu thích lao động, cảm thấy vui khi được lao động, lúc đó xã hội sẽ phát triển và văn minh hơn.
Mục đích của tạo động lực trong tổ chức Tạo động lực trong lao động chính là sử dụng một cách hợp lý nguồn lao động, khai thác một cách hiệu quả nguồn lực của con người nhằm nâng cao năng suất lao động. Tổ chức nào nâng cao biện pháp sử dụng hiệu quả nguồn lực lao động thì sẽ tăng hiệu quả trong sử dụng máy móc thiết bị, tiết kiệm vật chất, giảm chi phí từ đó hiệu quả kinh doanh sẽ cao hơn. Mục đích khác của tạo động lực là thu hút và gắn bó người lao động với tổ chức. Bởi khi người lao động có động lực làm việc sẽ giúp cho họ làm việc đạt năng suất hơn, mang đến hiệu quả cao cho tổ chức.
Nhờ vậy, không chỉ người lao động gắn bó với tổ chức đó mà nhiều người lao động khác cũng muốn vào làm việc tại tổ chức như vậy. Ý nghĩa của tạo động lực Tạo động lực cho người lao động có ý nghĩa hết sức quan trọng, vì nó giúp cho công tác tuyển dụng, tuyển chọn được tốt hơn, công tác phân công, hợp tác lao động đạt hiệu quả cao hơn, quản lý lao động thuận lợi. Đối với các vấn đề khác của tổ chức như an toàn lao động, văn hóa tổ chức, liên kết, hợp tác, phát triển…thì động lực lao động sẽ tạo ra hưng phấn làm việc cho người lao động. Họ sẽ cố gắng quán triệt tiết kiệm các chi phí cần thiết, đưa ra các sáng kiến phát triển.
nhằm phục vụ lợi ích chung của tổ chức. Các học thuyết cơ bản về tạo động lực Từ xưa đến nay, có nhiều học thuyết tạo động lực đã được đưa ra. Mỗi học thuyết đều có những điểm riêng biệt, đi sâu vào từng khía cạnh và khai thác các mặt khác nhau của các nhân tố tác động. Học thuyết phân cấp nhu cầu của Maslow Ông Abraham Maslow đã xây dựng học thuyết về nhu cầu của con người vào những năm 1950.
Ông cho rằng trong mỗi con người bao giờ cũng tồn tại một hệ thống phức tạp gồm 5 nhóm nhu cầu từ thấp đến cao [11].1: Sự phân cấp nhu cầu của A.Maslow Nhu cầu sinh lý hay còn được gọi là nhu cầu vật chất: là những nhu cầu mà con người luôn cố gắng thỏa mãn và duy trì bởi sự tồn tại tự nhiên của cơ thể họ bao gồm: ăn, ở, mặc, duy trì nòi giống… Nhu cầu an toàn: là nhu cầu sẽ xuất hiện tiếp theo khi nhu cầu sinh lý đã được thỏa mãn. Đó là những nhu cầu tránh sự nguy hiểm về thân thể. Trong một tổ chức, biểu hiện của sự đảm bảo về nhu cầu an toàn là điều kiện làm việc, hợp đồng lao động, chính sách về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, chính sách y tế, chế độ hưu trí… Nhu cầu xã hội: do con người đều là thành viên của xã hội nên họ cần 10 được người khác chấp nhận, có được sự thương yêu, tình đồng loại. Trong tổ chức, nhu cầu này thể hiện ở mối quan hệ tốt đẹp với đồng nghiệp cũng như cấp trên, được tham gia vào các hoạt động tập thể, làm việc theo nhóm.
Nhu cầu được tôn trọng: khi con người bắt đầu thỏa mãn nhu cầu xã hội thì họ có xu thế tự trọng và muốn được người khác tôn trọng. Trong tổ chức, nó được biểu hiện thông qua sự mong đợi của họ về sự khen thưởng, sự thăng tiến trong công việc, được đồng nghiệp nể phục, cấp trên tin tưởng. Nhu cầu tự hoàn thiện mình: sau khi đã thỏa mãn các nhu cầu thấp hơn trước đó thì sẽ đến nhu cầu này.