phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn được bố cục thành 4 chương: Chƣơng 1: Tổng quan về địa bàn nghiên cứu và cƣ dân Chƣơng 2: Quan niệm và cách ứng xử với thế giới thần linh Chƣơng 3: Các nghi lễ trong tang ma Chƣơng 4: Tang ma của ngƣời Tày - những vấn đề đặt ra 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ CƢ DÂN 1. Về địa bàn nghiên cứu 1. Vị trí địa lý Trên bản đồ Việt Nam, Trùng Khánh là một huyện miền núi phía bắc thuộc tỉnh Cao Bằng, cách thành phố Cao Bằng 63km theo đường tỉnh lộ 206, có tọa độ địa lý từ 22º42’09” đến 22º56’52” vĩ bắc (từ Pác Mười, Đoài Côn đến Phia Muông, Ngọc Khê), từ 106º23’49” đến 106º43’56” kinh đông (từ bản Gằn, Trung Phúc đến thác Bản Giốc, Đàm Thủy); phía bắc giáp huyện Trịnh Tây và Đại Tân (thuộc tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc) với đường biên giới dài 62km từ cột mốc biên giới 53 xã Đàm Thủy đến cột mốc 86 xã Lăng Yên. Phía đông và đông nam giáp huyện Hạ Lang, phía nam giáp huyện Quảng Uyên, phía tây giáp huyện Trà Lĩnh [43, tr.
Có cửa khấu quốc gia Pò Peo thuộc xã Ngọc Khê và các đường tiểu ngạch khác thông thương với Trung Quốc. Diện tích tự nhiên của huyện là 46. Với vị trí địa lý trên, Trùng Khánh không chỉ có điều kiện thuận lợi để giao lưu kinh tế với nước bạn Trung Quốc mà dân cư hai bên khu vực biên giới (chủ yếu là người Tày, Nùng ở Việt Nam và người Choang thuộc Quảng Tây, Trung Quốc) có nhiều điều kiện tiếp xúc văn hóa thường xuyên với nhau tạo nên những mối quan hệ mật thiết như quan hệ dòng tộc, quan hệ hôn nhân, quan hệ giữa các thầy cúng. Biểu hiện rõ nhất thông qua việc người Tày ở Việt Nam có thể tự sang biên giới Trung Quốc học chữ Hán hoặc nhận thầy học nghề tào, sau đó quay trở lại quê hương để làm thầy tào.
Mặt khác, nghề tào theo chân các cuộc di cư của người Nùng vào khu vực biên giới Trùng Khánh cũng đã góp phần tạo nên những yếu tố mới trong văn hóa, tín ngưỡng, phong tục tập quán của người Tày nơi đây. Trong đó, có 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phong tục tang ma được thực hiện bởi những thầy tào hành nghề cúng bái theo sách chữ Hán. Địa lý hành chính Từ xa xưa, Trùng Khánh vốn là vùng đất cổ, từ thời Hùng Vương là bộ Vũ Định, đến đời Lý gọi là Tư Lang thuộc đất Thái Nguyên, thời thuộc Minh đã chia Tư Lang làm Thượng Tư Lang và Hạ Tư Lang thuộc phủ Lạng Sơn, đến đời Lê gọi là châu Thượng Lang. Dưới triều Nguyễn khoảng năm 1834 sau cải cách hành chính đổi trấn làm tỉnh, đổi châu làm huyện, Cao Bằng có 1 phủ và 5 huyện, đó là phủ Trùng Khánh, huyện Thượng Lang thời kỳ này có 4 tổng, 37 xã, thôn.
Thời kỳ thuộc Pháp, tên gọi và các đơn vị hành chính thuộc tỉnh Cao Bằng cũng có nhiều thay đổi. Cuối thế kỷ XIX, Cao Bằng có 2 phủ là phủ Trùng Khánh và phủ Hòa An, phủ Trùng Khánh lúc đó gồm 3 châu: Thượng Lang, Hạ Lang và Quảng Uyên. Năm 1928, Cao Bằng có 1 phủ, 38 tổng, 230 xã. Trong đó, châu Thượng Lang có 6 tổng (Lăng Yên, Phong Đằng, Nga Ổ, Phong Châu, Trà Lĩnh, Ỷ Cống), 42 xã.
Năm 1942, tổng Trà Lĩnh tách khỏi phủ Trùng Khánh, thành lập châu Trấn Biên, đến năm 1945, tổng Phong Đằng tách khỏi phủ Trùng Khánh nhập vào châu Hạ Lang. Sau mạng tháng Tám 1945, phủ Trùng Khánh đổi tên là huyện Trùng Khánh, thuộc tỉnh Cao Bằng, tên gọi đó được sử dụng cho đến ngày nay. Trải qua quá trình phát triển, tên gọi, địa giới, số lượng các đơn vị hành chính huyện Trùng Khánh có nhiều thay đổi. Cho đến nay, huyện Trùng Khánh có 20 đơn vị hành chính, trong đó có thị trấn Trùng Khánh và 19 xã gồm: Cảnh Tiên, Đức Hồng, Thông Huề, Đoài Côn, Thân Giáp, Cao Thăng, Lăng Yên, Lăng Hiếu, Phong Nậm, Khâm Thành, Ngọc Trung, Trung Phúc, Đình Minh, Phong Châu, Đình Phong, Ngọc Khê, Ngọc Côn, Chí Viễn, Đàm Thủy.
Trong đó, các xã có số lượng người Tày cư trú tập trung đông nhất là 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đàm Thủy, Chí Viễn, Phong Châu, Đình Minh, Cảnh Tiên, Lăng Hiếu, Đức Hồng, Cao Thăng. Địa hình, khí hậu, sông ngòi Trùng Khánh nằm ở độ cao trung bình từ 600 - 800m so với mực nước biển, địa hình tương đối phức tạp với nhiều dãy núi cao, dưới chân núi là các thung lũng dài và hẹp bị chia cắt bởi nhiều dòng sông, suối lớn nhỏ khác nhau. Huyện có 3 dạng địa hình chính: dạng núi đá vôi, dạng đồi và địa hình thung lũng. Dạng núi đá vôi chiếm diện tích khá lớn với 11 xã, phân bố chủ yếu ở phía bắc và phía tây nam của huyện với độ cao trung bình khoảng 700 - 800m.
Dạng đồi gồm 6 xã phân bố chủ yếu ở phía đông nam của huyện với độ cao trung bình từ 500 - 800m. Dạng địa hình thung lũng gồm có 3 xã chính chạy dọc theo 2 hệ thống sông Quây Sơn và sông Bắc Vọng. Đó là những thung lũng bằng phẳng, dài và hẹp được kiến tạo bởi thiên nhiên cũng như công sức khai phá của nhân dân bao đời nay đã tạo nên những cánh đồng trù phú như Thông Huề, Cao Thăng, Ngọc Khê, Đức Hồng, Chí Viễn, v.v… Dọc biên giới phía bắc và đông bắc của huyện còn có những dãy núi đá cao tựa như một phên dậu, bức tường thành che chắn. Trong đó, cao nhất là ngọn núi Giang Mũ ở xã Ngọc Khê với độ cao trên 873m.
Phía nam và tây nam là địa hình chuyển tiếp của cao nguyên miền đông cao dần từ nam lên bắc. Do địa hình chủ yếu là đồi núi nên huyện Trùng Khánh cũng có nhiều đèo dốc, cao nhất là đèo Khau Liêu ngăn giữa hai huyện Quảng Uyên và Trùng Khánh với độ cao 664m nằm trên trục tỉnh lộ 206. Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nên Trùng Khánh cũng mang những đặc trưng như nhiều huyện miền núi phía bắc khác. Một năm có hai mùa rõ rệt, mùa lạnh bắt đầu từ tháng 10 kéo dài đến hết tháng 3 năm sau, nửa đầu mùa lạnh thời tiết khô hanh, ban ngày ấm áp nhưng ban đêm nhiệt độ thường hạ thấp xuống.
Nhiệt độ chênh lệch giữa ngày và đêm từ 5 đến 10ºC, 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tháng lạnh nhất trong năm là tháng 12 và tháng giêng do ảnh hưởng của gió mùa đông bắc tràn về, nhiệt độ có lúc xuống dưới 0ºC, kèm theo sương muối xuất hiện từng đợt từ 1 đến 2 ngày, đôi khi lên tới 4 đến 5 ngày. Mùa nóng bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 9, tháng nóng nhất trong năm là tháng 5 và tháng 6, nhiệt độ trung bình khoảng 36 - 40ºC. Từ tháng 7 trở đi nhiệt độ giảm dần, nhiệt độ trung bình trong năm là 24ºC. Lượng mưa trung bình năm là 1.805,9mm, cao nhất là từ tháng 5 đến tháng 9, thấp nhất là từ tháng 1 đến tháng 2, có mưa đá xuất hiện.
Có những năm mưa nhiều thường gây lũ lụt cục bộ, do địa hình đồi núi dốc nên dễ bị sạt lở, xói mòn, đất đai dễ bị rửa trôi, bạc màu gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất cũng như sinh hoạt của nhân dân. Độ ẩm trung bình năm là 78%. Trong hệ thống sông suối, Trùng Khánh có hai con sông lớn nhất, đó là sông Quây Sơn và sông Bắc Vọng bắt nguồn từ phía tây bắc và chảy theo hướng đông nam. Do địa hình đồi núi dốc nên có nhiều thác ghềnh, nước chảy xiết như thác Chó (Thông Huề) cao 10m, Thong Gót (Chí viễn) cao trên 20m, Thong Khoang (Ngọc Khê) cao trên 10m, nổi bật nhất là thác Bản Giốc (Đàm Thủy) cao trên 50m tạo thành 3 bậc nối tiếp nhau thành một dòng chảy vừa hùng vĩ vừa thơ mộng.
Hệ thống sông, suối ao hồ ngoài việc cung cấp nước sinh hoạt, sản xuất còn là nguồn lợi thủy sản dồi dào. Đặc biệt nơi đây có nhiều loại cá quý có giá trị kinh tế cao như cá chép, cá chiết, cá trầm xanh, cá trầm hương, ba ba, v.v…, ngoài hai hệ thống trên còn có một số hồ, đập, hang động tích nước như hồ bản Viết, động ngườm Ngao. Với địa bàn xa xôi hẻo lánh, bốn bề được bao bọc bởi núi rừng và các dòng sông, con suối lớn nhỏ khác nhau cùng với điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt. Để bảo đảm sự sinh tồn, không còn cách nào khác là đồng bào phải dựa vào thiên nhiên, cộng với những bất lực không thể lý giải trước các hiện tượng tự nhiên và hiện thực xã hội đã hình thành nên trong tâm thức của 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com người Tày một hệ thống tín ngưỡng đa thần với các lực lượng siêu nhiên mà con người phải có trách nhiệm thờ cúng khi cần thiết.
Mặt khác, với điều kiện tự nhiên ở trên, giao thông đi lại, kết nối với các vùng khác còn nhiều khó khăn nên huyện Trùng Khánh vẫn là một trong những địa bàn còn bảo lưu được nhiều giá trị văn hóa truyền thống nói chung và tang ma nói riêng. Đất đai, động thực vật, khoáng sản Trùng Khánh cũng là một huyện có quần thể động thực vật phong phú và đa dạng. Tổng diện tích đất lâm nghiệp của huyện là 29.462 ha, trong rừng có nhiều loại gỗ quý như: nghiến, lim, quý lát, thông, v.v…, các loại động vật như: hổ, báo, gấu, hươu, nai, khỉ, lợn lòi, vọoc mũi hếch, v.v…nhiều loại lâm sản quý như: măng, nấm hương, mộc nhĩ, sa nhân, ngũ gia bì, mật ong, v.v… Ngoài ra trên địa bàn huyện còn có nhiều loại hoa quả đặc sản nổi tiếng như: hạt dẻ, đào, lê, mận, cam, quýt, v.v… Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 46.872 ha, trong đó đất nông nghiệp là 38. Theo thông báo của hội khoa học Việt Nam, huyện Trùng Khánh có 7 nhóm đất.
Trong đó: đất phù sa chiếm 1,69%, đất Glây 0,42%, đất nâu 12,18%, đất đỏ 4,49%, đất tích vôi 6,92%, đất mòn trơ trọi 3,%, đất xám 34,58%. Trong lòng đất của huyện Trùng Khánh cũng chứa nhiều khoáng sản với trữ lượng lớn, trung bình cứ 14,5km² có một điểm khoáng sản. Nhiều loại khoáng sản quý như: Mangan, bôxít, thạch anh, quặng, đá vôi, đất thịt pha sét, v.v…rất thuận lợi để phát triển ngành công nghiệp.