MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đổi mới giáo dục đại học ở Việt Nam là yêu cầu cấp thiết để đảm bảo nguồn lưc chất lượng cao phục vụ cho phát triển đất nước theo hướng, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Để đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ các yếu tố của giáo dục đại học cần thiết phải thực hiện tự chủ đại học, tăng cường quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục đại học (ĐH), đồng thời giảm chi ngân sách nhà nước (NSNN) cho giáo dục. Có bốn nhóm yếu tố quyết định đến tự chủ đại học gồm: (i) tự chủ về thực hiện nhiệm vụ hay còn gọi là tự chủ về học thuật; (ii) tự chủ về tổ chức bộ máy; (iii) tự chủ về nhân sự và (iv) tự chủ về tài chính.
Trong đó, tự chủ về tài chính là yếu tố quan trọng, đóng vai trò then chốt, hỗ trợ để thực hiện thành công các yếu tố tự chủ khác. Ở Việt Nam, tự chủ tài chính (TCTC) giáo dục đại học nói riêng và các đơn vị sự nghiệp có thu nói chung, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 10/2002/NĐ- CP ngày 16/01/2002 của Chính phủ về chế độ tài chính áp dụng cho các đơn vị sự nghiệp có thu (Nghị định số 10/2002/NĐ-CP) nhằm thống nhất quản lý nguồn tài chính và sử dụng nguồn tài chính tạo điều kiện cho các đơn vị sự nghiệp tăng thu bảo đảm trang trải kinh phí hoạt động. Tuy nhiên, Nghị định số 10/2002/NĐ-CP chỉ dừng lại ở mức trao quyền tự chủ về tài chính cho các đơn vị nhưng vẫn phải chịu nhiều ràng buộc khác. Đến năm 2006, Chính phủ ban hành Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập (Nghị định số 43/2006/NĐ-CP).
Theo đó, quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị được giao đầy đủ hơn, gắn chặt tự chủ với tự chịu trách nhiệm. Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, Bộ Xây dựng (BXD) đã giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế 2 và tài chính cho các trường đại học trực thuộc BXD gồm các trường: Đại học Kiến trúc Hà Nội và Đại học Kiến trúc Thành phố Hồ Chí Minh (Tp.HCM) vào năm 2007; Đại học Xây dựng Miền Trung và Đại học Xây dựng Miền Tây năm 2013, ngay sau khi 02 trường nay được Thủ tướng Chính phủ (TTgCP) cho phép nâng cấp từ trường cao đẳng lên trường ĐH, theo quy chế tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động thường xuyên. Trong quá trình thực hiện tự chủ một phần kinh phí hoạt động thường xuyên, các trường đại học trực thuộc BXD đã từng bước chủ động nâng cao nguồn thu, sử dụng nguồn lực tài chính, tài sản, lao động và cơ sở vật chất (CSVC) để đảm bảo và nâng dần mức độ tự chủ chi thường xuyên. Tuy nhiên, đến nay các trường nêu trên chưa tự chủ được hoàn toàn kinh phí hoạt động thường xuyên.
Xuất phát từ lý luận và thực tiễn, tác giả lựa chọn đề tài “Tăng cường tự chủ tài chính tại các trường đại học trực thuộc Bộ Xây dựng” với mong muốn tìm hiểu, đánh giá thực trạng TCTC và khả năng TCTC của các trường đại học trực thuộc BXD, từ đó đề xuất một số giải pháp tăng cường TCTC tại các trường đại học trực thuộc BXD. Tổng quan nghiên cứu 2. Các nghiên cứu trong nước Trong thời gian qua, có khá nhiều công trình nghiên cứu trong nước về TCTC đại học như của các tác giả: Đàm Văn Huệ (2011), Trần Đức Cân (2012), Nguyễn Thu Hương (2014), Nguyễn Minh Tuấn (2015), Nguyễn Chí Hướng (2017), Trương Thị Hiền (2017), … Điểm chung của các nghiên cứu trong nước chủ yếu tập trung hoàn thiện cơ chế TCTC, điều kiện thực hiện TCTC, quản lý tài chính trong điều kiện tự chủ. Điểm khác biệt giữa các công trình nghiên cứu về TCTC ĐHCL là nội dung TCTC và nhân tố ảnh hưởng đến TCTC ĐHCL, như: * Nội dung quản lý tài chính và tự chủ tài chính đại học - Nghiên cứu của tác giả Trương Thị Hiền (2017): “Quản lý tài chính tại các trường ĐHCL trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo trên địa bàn Tp.HCM trong điều 3 kiện tự chủ” Tác giả đã nghiên cứu lý luận và thực tiễn quản lý tài chính tại các trường ĐHCL Tp.HCM bao gồm: Quản lý các nguồn thu, quản lý các khoản chi, quản lý quá trình xử lý chênh lệch thu chi hoạt động tài chính trong điều kiện tự chủ; từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại các trường ĐHCL trên địa bàn Tp.HCM phù hợp với điều kiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính của Nhà nước.
- Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thu Hương (2014): “Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các chương trình đào tạo chất lượng cao trong các trường ĐHCL Việt Nam” Luận văn đã đưa ra quan điểm: về cơ chế quản lý tài chính đối với chương trình đào tạo chất lượng cao trong các trường ĐHCL, trong đó làm rõ vai trò chủ thể quản lý của Nhà nước trong quá trình sử dụng các công cụ, phương tiện quản lý để vận hành cơ chế quản lý tài chính; cũng như mô hình cơ chế quản lý tài chính đối với các chương trình đào tạo chất lượng cao được coi là hoàn thiện với các nội dung cơ bản: quản lý ngân sách theo hoạt động gắn với sản phẩm và các chỉ tiêu đánh giá sản phẩm phù hợp với thông lệ quốc tế; chính sách học phí xây dựng theo nguyên tắc trường ĐH tự chủ quyết định học phí dựa trên chi phí đào tạo; quản lý chi phí theo hoạt động (mô hình ABC-M) gắn với các định mức kinh tế kỹ thuật và yếu tố nội hàm chi phí; mối quan hệ giữa các chủ thể khi tham gia vận hành cơ chế. Trên cơ sở đánh giá thực trạng cơ chế quản lý tài chính đối với các chương trình đào tạo chất lượng cao trong các trường ĐHCL, luận án đã chỉ ra những bất cập, yếu kém chủ yếu liên quan đến việc công cụ ngân sách nhà nước, chính sách học phí chưa được kết hợp chặt chẽ và sử dụng tốt để thu hút, điều tiết nguồn lực xã hội nhằm phát triển các chương trình đào tạo chất lượng cao; quyền TCTC của các trường ĐH chưa tương xứng yêu cầu quản lý của các chương trình đào tạo chất lượng cao được thiết kế và tổ chức theo chương trình hiện đại, tiên tiến của nước ngoài. Đây chính là nguyên nhân dẫn tới việc triển khai các chương trình đào tạo chất lượng cao trong các trường ĐHCL không đạt được mục tiêu đã đề ra. Luận án 4 đề xuất 04 nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các chương trình đào tạo chất lượng cao trong các trường ĐHCL Việt Nam về các nội dung: quản lý nguồn ngân sách, quản lý học phí, quản lý chi phí theo mô hình được đề xuất ở phần lý luận, góp phần đạt được mục tiêu và nâng cao chất lượng của chương trình.
- Đề tài cấp cơ sở của tác giả Đàm Văn Huệ (2011): “Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại trường ĐH Kinh tế Quốc dân”. Trên cơ sở nghiên cứu cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính; đặc điểm hoạt động tài chính; nội dung, nguyên tắc quản lý chi thường xuyên trong các trường ĐHCLTCTC trong các trường ĐHCL. Tác giả đã đánh giá thực trạng cơ chế quản lý tài chính: nguồn tài chính của trường; quản lý các khoản thu và mức thu; quản lý nội dung chi và mức chi cơ chế của Trường ĐH Kinh tế Quốc dân. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số giải pháp chủ yếu hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính tại Trường ĐH Kinh tế Quốc dân trong bối cảnh tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính.
* Các nhân tố ảnh hưởng đến tự chủ tài chính ĐHCL - Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Chí Hướng (2017): “Tự chủ tài chính ở Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh”. Tác giả đưa ra 06 nhân tố chính ảnh hưởng đến TCTC của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh gồm: (i) Chức năng nhiệm vụ; (ii) Tổ chức bộ máy; (iii) Cơ chế chính sách; (iv) Năng lực quản lý; (v) CSVC; (vi) Trình bộ cán bộ. Tác giả đã nghiên cứu hai mối liên hệ: (i) mối tương quan giữa các điều kiện thực hiện TCTC và mức độ TCTC ở Học viện; (ii) mối quan hệ giữa mức độ TCTC với hiệu quả công tác TCTC dựa trên 02 góc độ hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội theo mô hình nghiên cứu theo mô hình nghiên cứu: 5 Hình 0.1: Mô hình các nhân tố ảnh hƣởng đến tự chủ tài chính ĐHCL Nguồn: Luận án của tác giả Nguyễn Chí Hướng (2017) Mức độ tự chủ tài chính: tác giả chia theo TCTC của đơn vị thành 04 nhóm gồm: (i) tự đảm bảo chi thường xuyên và chi đầu tư; (ii) tự đảm bảo chi thường xuyên; (iii) tự đảm bảo một phần chi thường xuyên; (iv) nhà nước đảm bảo chi thường xuyên. Về hiệu quả TCTC: tác giả đánh giá trên 02 góc độ: kinh tế và nhiệm vụ, chức năng.
Kết quả nghiên cứu, tác giả đã chỉ ra được ảnh hưởng của 06 điều kiện tới mức độ TCTC và chỉ ra rằng: + Các điều kiện về chức năng nhiệm vụ và tổ chức bộ máy: tỷ lệ nghịch với mức độ TCTC. + Các điều kiện về cơ sơ vật chất, cơ chế chính sách, năng lực quản lý và trình độ cán bộ GV ảnh hưởng tích cực đến mức độ TCTC, trong đó nhân tố năng lực quản lý ảnh hưởng lớn nhất (42,10%), tiếp đó là CSVC (30,5%) và trình độ cán bộ giảng viên (22%), cuối cung là cơ chế chính sách (15,60%). Do đó, phát huy tốt các nhân tố này sẽ có hiệu quả tích cực thúc đẩy mức TCTC lớn hơn. - Nghiên cứu của tác giả Trần Đức Cân (2012): “Hoàn thiện cơ chế tự chủ 6 tài chính các trường ĐHCL ở Việt Nam”.
Luận án đã bổ sung làm rõ khái niệm, bản chất và nhân tố tác động tới TCTC, cơ chế TCTC trường ĐHCL. Tác giả đã nghiên cứu đưa 06 tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của cơ chế TCTC bao gồm: (i) tính hiệu lực, (ii) hiệu quả, (iii) tính linh hoạt, (iv) công bằng, (v) ràng buộc tổ chức, và (vi) sự chấp nhận của cộng đồng.