Tổng quan nghiên cứu

Trong tiến trình đổi mới giáo dục đại học tại Việt Nam, sự chuyển dịch mô hình quản trị từ cơ chế bao cấp sang tự chủ tài chính là điều kiện tiên quyết nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và giảm áp lực cho ngân sách nhà nước. Giai đoạn 2014 - 2017 ghi nhận ngân sách nhà nước cấp chỉ còn đáp ứng trung bình khoảng 40,5% đến 44,8% tổng nhu cầu kinh phí hoạt động tại các cơ sở giáo dục đại học công lập. Trong bối cảnh tự chủ đại học bao gồm 4 trụ cột cơ bản là học thuật, tổ chức bộ máy, nhân sự và tài chính, tự chủ tài chính giữ vai trò huyết mạch và là đòn bẩy thúc đẩy các mặt tự chủ còn lại phát triển bền vững.

Vấn đề đặt ra là phần lớn các cơ sở giáo dục đại học trực thuộc các Bộ chuyên ngành vẫn đang vận hành theo cơ chế tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động thường xuyên theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP và gặp nhiều lúng túng khi tiếp cận các quy định đổi mới của Nghị định 16/2015/NĐ-CP. Đề tài tập trung hệ thống hóa cơ sở lý luận về tự chủ tài chính trong giáo dục đại học công lập, đồng thời phân tích, đánh giá toàn diện thực trạng thực hiện cơ chế tự chủ tài chính tại 04 trường đại học trực thuộc Bộ Xây dựng trong giai đoạn 2014 - 2017, bao gồm Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội, Trường Đại học Kiến trúc Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Xây dựng Miền Trung và Trường Đại học Xây dựng Miền Tây.

Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện ở việc chỉ rõ khoảng cách chênh lệch về năng lực tự chủ giữa nhóm trường tại đô thị lớn với tỷ lệ tự bảo đảm chi thường xuyên đạt từ 75,1% đến 93,2% và nhóm trường địa phương mới nâng cấp từ cao đẳng với tỷ lệ chỉ đạt từ 60,6% đến 62,2%. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học để đề xuất hệ thống giải pháp tài chính đồng bộ định hướng đến năm 2030, hỗ trợ các trường chủ động nâng cao năng lực tài chính và tiến tới tự chủ toàn diện.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết quản trị đại học hiện đại kết hợp mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến tự chủ tài chính đại học công lập của Nguyễn Chí Hướng (2017). Mô hình này chỉ ra 6 nhân tố tác động then chốt, trong đó năng lực quản lý giữ vai trò chi phối lớn nhất với mức độ ảnh hưởng 42,10%, tiếp đến là điều kiện cơ sở vật chất chiếm 30,50%, trình độ đội ngũ cán bộ giảng viên chiếm 22,00% và cơ chế chính sách chiếm 15,60%. Đồng thời, nghiên cứu tiếp thu khung lý thuyết tự chủ đại học của Hiệp hội Đại học Châu Âu (EUA), khẳng định quyền tự chủ tài chính là năng lực tự quyết định phân bổ ngân quỹ nội bộ nhằm hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược.

Nghiên cứu làm rõ 4 khái niệm nền tảng:

  1. Trường đại học công lập: Đơn vị sự nghiệp công lập có thu do Nhà nước thành lập, cung ứng dịch vụ đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao không vì mục đích lợi nhuận tối đa.
  2. Tự chủ tài chính: Quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong việc khai thác nguồn thu, quản lý chi tiêu, sử dụng tài sản công và phân phối thặng dư tài chính theo quy định pháp luật.
  3. Mức độ tự chủ tài chính: Chỉ số định lượng phản ánh khả năng tự trang trải hoạt động, tính bằng tỷ lệ phần trăm giữa tổng nguồn thu sự nghiệp trên tổng chi thường xuyên.
  4. Cơ cấu nguồn thu và nguồn chi: Tỷ trọng các nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước, học phí, hoạt động dịch vụ và tỷ trọng chi trả cho con người, chuyên môn và cơ sở vật chất.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu khảo sát toàn bộ quần thể gồm 4/4 trường đại học trực thuộc Bộ Xây dựng (cỡ mẫu N = 4), áp dụng phương pháp chọn mẫu mục đích toàn diện nhằm bảo đảm tính đại diện tuyệt đối cho khối đào tạo chuyên ngành xây dựng - kiến trúc của Bộ.

Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập chính thống từ các báo cáo quyết toán tài chính, báo cáo tổng kết năm học, đề án tự chủ của 04 trường trong giai đoạn 2014 - 2017, kết hợp hệ thống văn bản pháp lý như Nghị định 43/2006/NĐ-CP, Nghị định 16/2015/NĐ-CP, Nghị định 86/2015/NĐ-CP, Thông tư 71/2006/TT-BTC và Thông tư 81/2006/TT-BTC.

Phương pháp phân tích chủ đạo là nghiên cứu định tính kết hợp thống kê mô tả, phân tích tổng hợp chỉ số và so sánh chuỗi thời gian. Lý do lựa chọn phương pháp này là nhằm phản ánh khách quan biến động các chỉ tiêu tài chính qua từng năm, nhận diện rõ quy luật chuyển dịch cơ cấu ngân sách và chỉ ra nguyên nhân cốt lõi dẫn đến sự khác biệt về năng lực tài chính giữa các đơn vị.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phát hiện thứ nhất, mức độ tự chủ tài chính có sự phân hóa sâu sắc giữa các trường. Trường Đại học Kiến trúc Thành phố Hồ Chí Minh dẫn đầu với tỷ lệ tự bảo đảm chi thường xuyên tăng liên tục từ 90,1% năm 2014 lên 91,6% năm 2015, 92,5% năm 2016 và đạt 93,2% năm 2017. Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội duy trì mức độ tự chủ vững chắc, tăng từ 71,1% năm 2014 lên 75,1% năm 2017. Trái lại, Trường Đại học Xây dựng Miền Trung đạt mức tăng từ 53,6% lên 60,6%, còn Trường Đại học Xây dựng Miền Tây dao động từ 62,9% năm 2014 lên đỉnh 68,6% năm 2016 rồi giảm xuống 62,2% năm 2017.

Phát hiện thứ hai, cơ cấu nguồn thu phụ thuộc quá lớn vào học phí đào tạo. Tỷ lệ nguồn thu sự nghiệp trên tổng nguồn thu đạt trên 60% ở hai trường kiến trúc nhưng chỉ đạt bình quân 33% tại Đại học Xây dựng Miền Trung và 42% tại Đại học Xây dựng Miền Tây. Đáng chú ý, nguồn thu từ hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ tại cả 4 trường gần như bằng 0%, chưa tạo ra giá trị kinh tế bổ trợ cho hoạt động đào tạo.

Phát hiện thứ ba, sự phụ thuộc vào ngân sách nhà nước phản ánh mức độ bảo trợ chênh lệch. Ngân sách nhà nước cấp cho Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội chỉ chiếm từ 35,3% đến 37,7% tổng thu, trong khi tỷ lệ này ở Trường Đại học Xây dựng Miền Trung dao động ở mức cao từ 62,8% đến 67,9%, và Trường Đại học Xây dựng Miền Tây chiếm từ 50,7% đến 64,9%.

Phát hiện thứ tư, cơ cấu chi thường xuyên tập trung chủ yếu vào chi phí con người với chi trả tiền lương và phụ cấp chiếm gần 40% tổng nguồn chi. Việc phân phối chênh lệch thu chi giúp 3/4 trường đạt hệ số tăng thu nhập cho cán bộ viên chức từ 1 đến 2 lần quỹ lương ngạch bậc, riêng Đại học Xây dựng Miền Tây có hệ số tăng thu nhập dưới 1 lần.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính của sự phân hóa bắt nguồn từ lợi thế thương hiệu lâu năm, vị trí địa lý đắc địa tại hai trung tâm kinh tế lớn giúp nhóm trường kiến trúc thu hút quy mô sinh viên vượt trội và phát triển các chương trình chất lượng cao. Trong khi đó, Đại học Xây dựng Miền Trung và Miền Tây là những trường mới nâng cấp từ cao đẳng vào các năm 2011 - 2013, đóng trên địa bàn tỉnh lẻ nên quỹ đất rộng nhưng hiệu quả thương mại hóa tài sản thấp, nguồn tuyển sinh hạn chế và cơ sở vật chất cần nguồn vốn hỗ trợ lớn từ nhà nước.

Kết quả này hoàn toàn tương thích với các nghiên cứu của Nguyễn Chí Hướng (2017) và Trương Thị Hiền (2017), khẳng định sự nghèo nàn trong danh mục dịch vụ sự nghiệp và cơ chế giá trần học phí theo quy định nhà nước là rào cản lớn kìm hãm nguồn thu. Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa tối ưu thông qua biểu đồ đường biểu diễn tốc độ tăng trưởng chỉ số tự chủ tài chính 2014 - 2017 và biểu đồ cột so sánh cơ cấu tỷ trọng giữa nguồn thu ngân sách với nguồn thu sự nghiệp của từng trường, phản ánh rõ nét bức tranh bất cân xứng trong nội bộ ngành xây dựng.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Đa dạng hóa nguồn thu và thương mại hóa nghiên cứu khoa học: Ban Giám hiệu các trường cần chủ động đẩy mạnh hợp tác doanh nghiệp, mở rộng các khóa đào tạo ngắn hạn, dịch vụ kiểm định chất lượng công trình xây dựng và tư vấn quy hoạch kiến trúc. Mục tiêu nâng tỷ trọng nguồn thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh và nghiên cứu khoa học lên mức 15% - 20% tổng nguồn thu sự nghiệp vào năm 2025.

  2. Hoàn thiện Quy chế chi tiêu nội bộ và kiểm soát chi phí: Phòng Tài chính - Kế toán các trường thực hiện rà soát, định mức hóa chi tiêu công vụ, áp dụng cơ chế khoán kinh phí đến từng khoa và phòng ban. Phấn đấu tiết giảm chi phí quản lý hành chính gián tiếp xuống dưới 25% tổng chi thường xuyên, đồng thời bảo đảm trích lập tối thiểu 25% chênh lệch thu chi vào Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp để tái đầu tư hạ tầng kỹ thuật.

  3. Tăng cường phân cấp quản lý và kiểm tra giám sát: Vụ Kế hoạch - Tài chính thuộc Bộ Xây dựng cần đẩy mạnh công tác hướng dẫn, phân cấp quyền tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình cho thủ trưởng các trường; định kỳ kiểm toán nội bộ và giám sát 100% kế hoạch tài chính hàng năm nhằm bảo đảm an toàn nguồn vốn công.

  4. Hoàn thiện khung khổ thể chế và chính sách đầu tư từ Chính phủ: Kiến nghị Chính phủ và các Bộ ngành sớm ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết Nghị định 16/2015/NĐ-CP theo hướng cho phép các trường tự quyết định mức học phí tương xứng với chất lượng đào tạo dựa trên chi phí định mức kinh tế - kỹ thuật. Đối với 02 trường tại miền Trung và miền Tây, Nhà nước cần bố trí gói vốn mồi đầu tư dứt điểm cơ sở vật chất giai đoạn 2020 - 2025 và áp dụng gói tín dụng học bổng ưu đãi 3% - 5%/năm cho sinh viên trước khi thực hiện cắt giảm trợ cấp ngân sách.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Ban Giám hiệu và các nhà quản trị đại học công lập: Vận dụng mô hình lượng hóa chỉ số tự chủ tài chính, xây dựng quy chế quản lý tài sản công và phương thức phân phối quỹ thặng dư nhằm nâng cao đời sống cho giảng viên và người lao động.

  2. Cán bộ hoạch định chính sách tại Bộ Xây dựng, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tài chính: Khai thác bức tranh thực tiễn làm căn cứ ban hành các định mức kinh tế - kỹ thuật trong đào tạo khối ngành kiến trúc, quy hoạch và xây dựng, tạo hành lang pháp lý phù hợp với lộ trình tự chủ.

  3. Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Kinh tế phát triển, Quản trị công: Sử dụng khung phân tích các nhân tố tác động và phương pháp xử lý dữ liệu tài chính thứ cấp để phục vụ các công trình nghiên cứu mở rộng về kinh tế giáo dục.

  4. Cán bộ phòng Tài chính - Kế toán các đơn vị sự nghiệp có thu: Tham khảo giải pháp quản lý tài khoản ngân hàng, quy trình kiểm soát chi qua Kho bạc Nhà nước và kỹ thuật lập dự toán thu chi chủ động trong điều kiện chuyển đổi cơ chế tự chủ.

Câu hỏi thường gặp

Mức độ tự chủ tài chính của các trường đại học được xác định bằng công thức nào?

Mức độ tự chủ tài chính được đo lường bằng tỷ lệ phần trăm giữa tổng nguồn thu sự nghiệp chia cho tổng chi thường xuyên trong năm. Đơn vị đạt tỷ lệ từ 100% trở lên là tự bảo đảm toàn bộ, từ 10% đến dưới 100% là tự bảo đảm một phần, và dưới 10% do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ.

Vì sao có sự chênh lệch lớn về tỷ lệ tự chủ giữa các trường trực thuộc Bộ Xây dựng?

Sự chênh lệch xuất phát từ vị thế thương hiệu và quy mô đào tạo. Hai trường kiến trúc tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh có nguồn thu học phí dồi dào, đạt tỷ lệ tự chủ từ 75,1% đến 93,2%. Ngược lại, hai trường tại miền Trung và miền Tây mới nâng cấp từ cao đẳng nên quy mô nhỏ, cần ngân sách hỗ trợ khoảng 60%.

Nguồn thu từ hoạt động nghiên cứu khoa học của 04 trường đạt mức bao nhiêu?

Trong giai đoạn 2014 - 2017, nguồn thu từ nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ tại cả 4 trường xấp xỉ 0%. Nguồn thu sự nghiệp trên 55% hầu như chỉ dựa vào học phí và lệ phí, phản ánh sự thiếu liên kết giữa năng lực nghiên cứu với thị trường dịch vụ xây dựng.

Quy định trích lập các quỹ từ chênh lệch thu chi tại đơn vị tự chủ một phần ra sao?

Các trường được trích tối thiểu 25% thặng dư thu chi vào Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp. Số còn lại dùng để chi trả thu nhập tăng thêm tối đa không quá 3 lần quỹ lương ngạch bậc và trích lập Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi tối đa không quá 3 tháng lương thực tế bình quân.

Giải pháp nào giúp các trường đại học địa phương thoát khỏi phụ thuộc ngân sách?

Giải pháp trọng tâm là mở rộng các khóa đào tạo nghề ngắn hạn, cung cấp dịch vụ tư vấn kiểm định công trình cho các dự án tại địa phương nhằm tăng nguồn thu thêm 15% - 20%, kết hợp hiện đại hóa cơ sở vật chất và phân quyền tự chủ tài chính cho từng khoa đào tạo.

Kết luận

  • Luận văn đánh giá toàn diện bức tranh tự chủ tài chính giai đoạn 2014 - 2017 tại 04 trường đại học trực thuộc Bộ Xây dựng với mức tự chủ chi thường xuyên phân hóa từ 53,6% đến 93,2%.
  • Công trình chỉ rõ điểm nghẽn nguồn thu khi doanh thu phụ thuộc tới trên 90% vào học phí, trong khi đóng góp từ chuyển giao khoa học công nghệ đạt xấp xỉ 0%.
  • Nghiên cứu chứng minh vai trò then chốt của năng lực quản trị nội bộ và Quy chế chi tiêu trong việc tối ưu hóa chi phí và nâng hệ số thu nhập cán bộ lên 1 - 2 lần.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp 4 trọng tâm bao gồm đa dạng hóa nguồn thu, kiểm soát chi tiêu, tăng cường thanh tra giám sát và hoàn thiện thể chế giá dịch vụ giáo dục.
  • Xác định lộ trình đến năm 2025 khối trường kiến trúc hoàn thành tự bảo đảm 100% chi thường xuyên và khối trường xây dựng địa phương đạt mức tự chủ trên 80%.

Các nhà quản lý giáo dục, cơ quan chủ quản và các nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác toàn bộ hệ thống bảng biểu và phân tích chi tiết trong công trình để ứng dụng vào thực tiễn quản trị tài chính đại học công lập.