Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ "Quản lý tài chính công ở Việt Nam" (Mã số: 2000-98-083) do TS. Nguyễn Ngọc Hiến làm chủ nhiệm, được thực hiện tại Học viện Hành chính Quốc gia trực thuộc Bộ Nội vụ và nghiệm thu năm 2003. Công trình được triển khai trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang đẩy mạnh quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa kể từ mốc khởi xướng Đổi mới cuối năm 1986. Nghiên cứu về đổi mới quản lý tài chính công thực tế đã bắt đầu được đặt ra từ giữa thập niên 1980, dẫn tới việc ban hành Luật Ngân sách nhà nước năm 1996 cùng các chương trình cải cách thuế giai đoạn I và giai đoạn II.
Mặc dù việc thực thi khuôn khổ pháp lý này đã hỗ trợ tích cực cho phát triển kinh tế và bước đầu kiểm soát bội chi ngân sách ở mức hợp lý, thực tiễn quản lý tài chính công giai đoạn 1991–2002 bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng:
- Luật Ngân sách nhà nước năm 1996 và hệ thống văn bản pháp luật về thuế ban hành từ cuối thập niên 1980, sửa đổi trong thập niên 1990 không còn theo kịp thực tiễn phát triển;
- Chính sách thuế chưa bao quát đầy đủ nguồn thu; tình trạng thất thu, nợ đọng và khê đọng thuế còn lớn làm giảm khả năng huy động nguồn lực;
- Cơ chế phân bổ và sử dụng ngân sách còn dàn trải cho nhiều mục tiêu, hiện tượng bao cấp chưa được giải quyết triệt để, hiệu quả sử dụng công quỹ thấp và tình trạng lãng phí còn phổ biến;
- Mối quan hệ phân cấp tài chính giữa trung ương và chính quyền địa phương chưa bảo đảm phân bổ nguồn lực tối ưu.
Trước yêu cầu cấp bách của việc sửa đổi Luật Ngân sách nhà nước và hoàn thiện hệ thống thể chế kinh tế vĩ mô, đề tài xác định mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về tài chính công, bao gồm bản chất, đặc điểm, vai trò và chức năng của tài chính công trong nền kinh tế thị trường;
- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý tài chính công tại Việt Nam qua các giai đoạn, trọng tâm là thời kỳ 1991–2001 và các hạn chế kéo dài đến năm 2002;
- Đề xuất các quan điểm, nguyên tắc và hệ thống giải pháp nhằm tăng cường, đổi mới công tác quản lý tài chính công trong thời kỳ phát triển mới.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Tài chính công được tiếp cận dưới giác độ công cụ quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước.
- Phạm vi nội dung: Giới hạn trong các nội dung cốt lõi của tài chính công gồm hoạt động động viên nguồn thu (đánh thuế, phí) và quản lý chi tiêu ngân sách nhà nước trong điều kiện chuyển đổi kinh tế.
- Phạm vi thời gian: Đánh giá tiến trình quản lý trước thời kỳ Đổi mới, tập trung sâu vào giai đoạn 1991–2001, các hạn chế quản lý đến năm 2002, và định hướng giải pháp sau năm 2003.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và quan điểm học thuật
Đề tài tổng hợp sự tiến hóa của lý thuyết kinh tế học về tài chính công và vai trò của nhà nước qua bốn giai đoạn nền tảng:
- Trường phái cổ điển và tân cổ điển: Kế thừa tư tưởng của trường phái trọng thương (William Petty, Boisguilbert, François Quesnay, Turgot) và phát triển đỉnh cao qua tác phẩm "Của cải của các dân tộc" (1776) của Adam Smith với nguyên lý "bàn tay vô hình". Quan điểm này nhấn mạnh thị trường tự do, nhà nước chỉ đóng vai trò bảo vệ trật tự và sở hữu, coi cung là đường thẳng đứng vuông góc trục hoành, phủ nhận can thiệp vĩ mô và duy trì định đề "ngân sách tốt nhất là ngân sách cân bằng".
- Học thuyết John Maynard Keynes: Xuất phát từ thất bại của thị trường trong Đại khủng hoảng 1929–1933 (độc quyền, ngoại ứng tiêu cực, hàng hóa công cộng, thông tin không đối xứng), Keynes thiết lập nền tảng kinh tế học vĩ mô. Học thuyết chứng minh sự cần thiết phải có can thiệp của nhà nước thông qua chính sách tài khóa để kích cầu. Bằng mô hình số nhân chi tiêu, Keynes lập luận rằng chi tiêu công bổ sung sẽ tạo ra hiệu ứng dây chuyền kích thích đầu tư, tiêu dùng, nâng cao sản lượng và giải quyết việc làm.
- Lý thuyết tài chính công của Richard Musgrave: Tác phẩm "Tài chính công - Lý thuyết và chính sách" mở rộng khuôn khổ Keynes, chỉ ra ba chức năng trụ cột của tài chính công gồm: phân bổ nguồn lực (hướng tới hiệu quả Pareto), phân phối thu nhập (sử dụng thuế và trợ cấp để thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, minh họa bằng đường cong Lorenz), và ổn định kinh tế vĩ mô.
- Lý thuyết kinh tế học hiện đại về nền kinh tế hỗn hợp: Kết hợp cơ chế thị trường với sự điều tiết của nhà nước, đồng thời nhận diện các "thất bại của Chính phủ" xuất phát từ hạn chế thông tin, hạn chế kiểm soát khu vực tư, tệ quan liêu và sự chậm trễ trong quy trình hiệp thương chính trị.
Công trình cũng phân tích định nghĩa của các học giả quốc tế (Christopher Pass, Bryan Lowes, Leslie Davies; Harvey S. Rosen; Joseph E. Stiglitz; Robert Haveman và John Bascom) và các học giả trong nước (Nguyễn Ngọc Hùng, Đỗ Văn Thành, Lê Thế Tường). Từ đó, tác giả đưa ra định nghĩa chuẩn hóa: "Tài chính công là các hoạt động thu và chi bằng tiền của nhà nước, phản ánh các mối quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị trong quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ của nhà nước nhằm phục vụ việc thực hiện các chức năng vốn có của nhà nước đối với xã hội."
| Tiêu chí phân định |
Tài chính công |
Tài chính nhà nước |
| Nguồn thu |
Thuế, phí, lệ phí và tín dụng nhà nước tập trung vào ngân sách nhà nước. |
Bao gồm thu ngân sách nhà nước và các quỹ tài chính ngoài ngân sách (quỹ bảo hiểm xã hội, quỹ hưu trí, quỹ hỗ trợ đầu tư...). |
| Tính chất hoạt động |
Hoạt động phi lợi nhuận, phục vụ chức năng quản trị xã hội của nhà nước. |
Bao gồm cả hoạt động kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận của hệ thống doanh nghiệp nhà nước. |
| Mục đích chi tiêu |
Cung cấp hàng hóa, dịch vụ công cộng và thực hiện các chức năng vốn có của nhà nước. |
Cung ứng hàng hóa công cộng lẫn hàng hóa, dịch vụ thông thường trên thị trường thông qua doanh nghiệp nhà nước. |
Phương pháp nghiên cứu
Đề tài phối hợp liên ngành các phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội và quản lý kinh tế:
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Phân tích, tổng thuật các học thuyết tài khóa, kinh tế học khu vực công và quản trị hành chính;
- Phương pháp thu thập và thống kê số liệu: Thu thập chuỗi dữ liệu thứ cấp về thu, chi ngân sách và nợ công giai đoạn 1991–2001;
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Xử lý định tính và định lượng các mối quan hệ kinh tế vĩ mô;
- Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến các chuyên gia kinh tế, nhà quản trị tài chính tại các bộ, ngành và cơ sở đào tạo chuyên ngành.
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Lý luận chung về tài chính công và quản lý tài chính công
Chương I xây dựng hệ thống khái niệm, phân loại và các nguyên lý vận hành cốt lõi của tài chính công:
- Đặc điểm của tài chính công: Gắn chặt với sở hữu công cộng và phục vụ lợi ích chung; gắn liền với quyền lực chính trị tối cao của Nhà nước (mang tính cưỡng chế và không hoàn trả trực tiếp); mang tính công cộng phục vụ các mục tiêu vĩ mô; kết hợp hài hòa giữa tính bắt buộc và tự nguyện, giữa hoàn trả và không hoàn trả.
- Vai trò và chức năng: Đóng vai trò then chốt trong huy động nguồn lực tài chính cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa; điều tiết vĩ mô và định hướng kinh tế vi mô; duy trì sự tồn tại và vận hành của bộ máy nhà nước; giữ vị trí chủ đạo trong hệ thống tài chính quốc dân. Bốn chức năng chính bao gồm: phân bổ nguồn lực (tối ưu hóa phúc lợi theo nguyên lý cải thiện Pareto), phân phối thu nhập (thông qua thuế lũy tiến và trợ cấp xã hội, minh chứng qua đường cong Lorenz), ổn định kinh tế và thúc đẩy tăng trưởng.
- Bản chất và đặc điểm của quản lý tài chính công: Quản lý tài chính công là hoạt động của nhà nước sử dụng các biện pháp tổ chức, kinh tế và pháp luật để điều hành quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ công. Bốn đặc điểm quản lý cốt lõi gồm:
- Được điều hành bằng pháp luật và thực hiện nghiêm ngặt theo kế hoạch ngân sách;
- Coi trọng các biện pháp tổ chức - hành chính có tính mệnh lệnh bắt buộc;
- Kết hợp chặt chẽ giữa quản trị yếu tố con người (công chức, đơn vị thụ hưởng) và yếu tố tài chính;
- Đảm bảo sự thống nhất giữa mặt giá trị bằng tiền và mặt hiện vật (giá trị sử dụng thực tế của tài sản công).
- Hệ thống quan điểm và công cụ quản lý: Quán triệt 4 quan điểm lớn: phục vụ nhiệm vụ chính trị; thúc đẩy phát triển kinh tế gắn với ổn định xã hội; phát huy nội lực; thực hành tiết kiệm triệt để và hiệu quả (đặc biệt quy định chi thường xuyên tuyệt đối không vượt quá nguồn thu từ thuế và phí; các khoản vay nợ chỉ dùng cho đầu tư phát triển). Hệ thống công cụ gồm: luật pháp, kế hoạch hóa ngân sách, các chính sách kinh tế vĩ mô, công tác thanh tra - kiểm tra - kiểm toán, và tổ chức bộ máy quản lý nhà nước.
Chương II: Thực trạng quản lý tài chính công ở nước ta thời gian qua
Nội dung chương tập trung tái hiện bức tranh tài chính nhà nước qua từng thời kỳ:
- Giai đoạn trước Đổi mới: Cơ chế quản lý tài chính vận hành theo phương thức kế hoạch hóa tập trung, mang nặng tính hiện vật và bao cấp toàn diện. Nguồn thu chủ yếu dựa vào thu quốc doanh và viện trợ nước ngoài, nguồn lực phân bổ bình quân, triệt tiêu động lực tài chính của các đơn vị kinh tế.
- Thời kỳ Đổi mới và thực trạng thu NSNN giai đoạn 1991–2001: Hệ thống thu ngân sách từng bước được luật hóa qua cải cách thuế giai đoạn I và II. Đã bước đầu bao quát được các thành phần kinh tế, giảm phụ thuộc vào nguồn thu từ xí nghiệp quốc doanh, tăng tỷ trọng động viên từ thuế tiêu dùng, thuế xuất nhập khẩu và thu từ dầu khí. Tuy vậy, chính sách thuế vẫn phức tạp, diện miễn giảm còn rộng, tình trạng thất thu thuế trong khu vực kinh tế ngoài quốc doanh và thương mại biên giới diễn biến phức tạp.
- Thực trạng chi NSNN giai đoạn 1991–2001: Từng bước xóa bỏ bao cấp trực tiếp, cơ cấu lại chi tiêu theo hướng gia tăng chi đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật và giải quyết các vấn đề xã hội (xóa đói giảm nghèo, giáo dục, y tế). Mặc dù vậy, chi thường xuyên vẫn chiếm tỷ trọng lớn, áp lực biên chế hành chính nặng nề; công tác kiểm soát chi còn lỏng lẻo, phân bổ vốn đầu tư công bị phân tán, tiến độ thi công chậm và thất thoát trong xây dựng cơ bản còn nghiêm trọng.
- Thực trạng nợ Chính phủ và các hạn chế quản lý (1991–2002): Đề tài đánh giá cơ cấu nợ vay trong nước và vay nợ nước ngoài để bù đắp thâm hụt ngân sách. Tác giả chỉ rõ các tồn tại lớn kéo dài đến năm 2002:
- Thâm hụt ngân sách tuy được kiểm soát quanh mức 3% GDP nhưng tiềm ẩn rủi ro thiếu bền vững;
- Thẩm quyền quyết định ngân sách của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp còn mang tính hình thức, chưa đi sâu vào từng khoản chi cụ thể theo lĩnh vực;
- Cơ chế phân cấp ngân sách chưa kích thích chính quyền địa phương tự chủ nuôi dưỡng nguồn thu;
- Thủ tục cấp phát, thanh quyết toán tài chính còn rườm rà, thiếu sự gắn kết giữa đầu vào ngân sách và kết quả đầu ra.
Chương III: Các giải pháp tăng cường quản lý tài chính công trong thời gian tới
Đề tài xác lập hệ thống giải pháp toàn diện tương ứng với định hướng đổi mới thể chế:
- Mục tiêu và nguyên tắc: Bảo đảm duy trì hoạt động thông suốt, hiệu lực của bộ máy hành chính; chuyển đổi mạnh mẽ từ quản lý kiểm soát "đầu vào" (biên chế, kinh phí) sang quản lý "đầu ra" (kết quả và chất lượng sản phẩm công việc); gắn quyền hạn với trách nhiệm giải trình của thủ trưởng cơ quan sử dụng ngân sách.
- Quản lý thuế và nguồn thu: Cải cách biểu thuế theo hướng đơn giản, minh bạch; mở rộng cơ sở thuế, giảm dần các diện ưu đãi miễn giảm thiếu căn cứ; hiện đại hóa quy trình thu thuế qua hệ thống Kho bạc Nhà nước nhằm khắc phục khê đọng và trốn lậu thuế.
- Hoàn thiện chính sách chi tiêu: Xây dựng hệ thống định mức chi tiêu thực tế; thực hiện cơ chế khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính; phân loại đơn vị sự nghiệp công lập để áp dụng cơ chế tự chủ tài chính; thử nghiệm phương thức Nhà nước đặt hàng, mua dịch vụ công thay cho cấp phát kinh phí bao cấp bình quân.
- Đổi mới phân cấp và quy trình quản lý ngân sách: Xác định rõ nguồn thu phân chia và nhiệm vụ chi giữa các cấp chính quyền; trao quyền chủ động tài chính lớn hơn cho địa phương đi kèm với chế độ kiểm tra nghiêm ngặt; sửa đổi quy trình quyết định ngân sách để Quốc hội và HĐND thông qua dự toán chi tiết theo lĩnh vực chuyên môn.
- Khuyến khích đầu tư và kiểm soát chi: Phát triển thị trường vốn, đa dạng hóa phương thức huy động vốn nhàn rỗi trong dân cư; mở rộng cơ chế kiểm toán nhà nước bắt buộc đối với mọi cấp ngân sách nhằm ngăn chặn lãng phí, tham nhũng.
Kết quả và đóng góp
Kết quả nghiên cứu chính
- Chuẩn hóa hệ thống khái niệm học thuật về tài chính công và quản lý tài chính công phù hợp với mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam, khắc phục quan điểm đồng nhất tài chính công với tài chính nhà nước.
- Làm rõ cấu trúc phân tầng của hệ thống tài chính công gồm: Ngân sách nhà nước, Dự trữ nhà nước, Tín dụng nhà nước, Tài chính các cơ quan hành chính nhà nước và Tài chính các đơn vị sự nghiệp nhà nước.
- Tổng hợp bức tranh thu - chi ngân sách và quản lý nợ công thời kỳ 1991–2001, chỉ ra các nguyên nhân căn cốt dẫn tới thất thu thuế, chi tiêu dàn trải và nợ đọng ngân sách.
- Xác lập cơ sở khoa học cho việc kiểm soát chi tiêu công, giữ trần thâm hụt ngân sách ở mức an toàn (xung quanh 3% GDP) và nguyên tắc phân bổ chi tiêu công: chi thường xuyên được bảo đảm bằng thuế, phí; nguồn vốn vay nợ chỉ tập trung cho đầu tư phát triển.
Đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn
- Đóng góp lý luận: Là một trong những công trình nghiên cứu cấp Bộ đầu tiên tại Học viện Hành chính Quốc gia tiếp cận tài chính công dưới lăng kính kinh tế học hiện đại kết hợp khoa học hành chính công; làm sáng tỏ các mối quan hệ tác động qua lại giữa bàn tay vô hình của thị trường và bàn tay hữu hình của nhà nước trong phân bổ tài chính.
- Đóng góp thực tiễn: Cung cấp luận cứ khoa học trực tiếp phục vụ quá trình soạn thảo, sửa đổi Luật Ngân sách nhà nước (sau đó được Quốc hội thông qua vào cuối năm 2002, có hiệu lực từ năm ngân sách 2004), tạo tiền đề cho quá trình đổi mới phân cấp tài khóa và cải cách tài chính công trong chiến lược cải cách nền hành chính nhà nước giai đoạn 2001–2010.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài
- Về phạm vi can dự: Do giới hạn nguồn lực của một đề tài cấp Bộ, công trình chỉ tập trung sâu vào ngân sách nhà nước và thuế, chưa bao quát chi tiết cơ chế quản lý vận hành của các quỹ tài chính ngoài ngân sách (quỹ hỗ trợ đầu tư, bảo hiểm xã hội).
- Về phương pháp xử lý dữ liệu: Phân tích định lượng chủ yếu dừng lại ở thống kê mô tả chuỗi số liệu thứ cấp giai đoạn 1991–2001; chưa áp dụng các mô hình kinh tế lượng để đo lường độ co giãn của thuế hoặc ước lượng định lượng tác động của số nhân chi tiêu đến tăng trưởng GDP.
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Nghiên cứu cơ chế vận hành thị trường đối với dịch vụ công thông qua phương thức đấu thầu, đặt hàng và mua sản phẩm dịch vụ công ích.
- Xây dựng mô hình giám sát tài chính độc lập, hoàn thiện khung pháp lý và địa vị pháp lý của Kiểm toán Nhà nước khi tách khỏi cơ quan hành pháp.
- Đánh giá tác động của tiến trình hội nhập tài chính quốc tế (đặc biệt là các cam kết thuế quan trong khuôn khổ ASEAN/AFTA) đối với cơ cấu nguồn thu ngân sách quốc gia.
Giá trị tham khảo
Đề tài là tài liệu khoa học hữu ích cho các đối tượng chuyên môn cụ thể:
- Cơ quan hoạch định chính sách: Cung cấp luận cứ cho các chuyên viên vụ, cục chức năng thuộc Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội trong nghiên cứu thể chế ngân sách và phân cấp tài chính.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Phục vụ công tác giảng dạy, học tập chuyên ngành Quản lý công, Hành chính công, Quản lý kinh tế và Tài chính - Ngân hàng tại Học viện Hành chính Quốc gia và các trường đại học khối kinh tế.
- Nhà nghiên cứu về lịch sử cải cách thể chế: Nguồn tư liệu phục vụ phân tích giai đoạn chuyển đổi chính sách tài khóa của Việt Nam từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường thập niên 1990 và đầu những năm 2000.
Câu hỏi thường gặp
1. Tài chính công khác biệt với tài chính nhà nước ở những điểm cơ bản nào?
Theo đề tài, tài chính công là một bộ phận của tài chính nhà nước nhưng có ba điểm khác biệt rõ ràng:
- Về nguồn thu: Tài chính công gắn liền với các khoản thu bắt buộc tập trung vào ngân sách nhà nước (thuế, phí, lệ phí, tín dụng nhà nước); tài chính nhà nước bao hàm cả các quỹ tiền tệ ngoài ngân sách như quỹ bảo hiểm xã hội, quỹ hưu trí, quỹ hỗ trợ đầu tư.
- Về mục tiêu: Tài chính công phi lợi nhuận, trong khi tài chính nhà nước bao gồm cả hoạt động kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận của các doanh nghiệp nhà nước.
- Về nhiệm vụ chi: Tài chính công chỉ phục vụ việc thực hiện các chức năng vốn có của nhà nước; tài chính nhà nước bao gồm cả chi tiêu cung ứng các hàng hóa, dịch vụ thông thường qua doanh nghiệp nhà nước.
2. Quan điểm của đề tài về nguyên tắc phân bổ giữa chi thường xuyên và vốn vay nợ công như thế nào?
Đề tài khẳng định nguyên tắc bất di bất dịch trong quản lý chi tiêu công: Chi thường xuyên (chi tiêu dùng của bộ máy nhà nước) tuyệt đối không được vượt quá nguồn thu từ thuế và phí, đồng thời phải được khống chế trong một tỷ lệ nhất định. Nguồn vốn vay nợ (cả trong nước và ngoài nước) tuyệt đối không được dùng để chi cho tiêu dùng thường xuyên, mà bắt buộc phải dành trọn vẹn cho chi đầu tư phát triển.
3. Những nguyên nhân nào dẫn tới "thất bại của Chính phủ" trong quản lý tài chính công được tác giả đề cập?
Từ lý thuyết kinh tế học hiện đại, đề tài chỉ ra các nguyên nhân chính dẫn đến sự can thiệp kém hiệu quả của chính phủ: thông tin hạn chế không nắm bắt kịp thời nhu cầu thị trường; khả năng kiểm soát hạn chế đối với khu vực tư nhân; sự trì trệ của bộ máy quan liêu hành chính; và những hạn chế của quy trình hiệp thương chính trị làm chậm trễ tiến độ ban hành, thực thi các chính sách tài khóa.
4. Đề tài đề xuất giải pháp đột phá nào đối với cơ chế cấp phát ngân sách cho cơ quan hành chính?
Đề tài đề xuất chuyển đổi căn bản phương thức quản lý từ việc kiểm soát các yếu tố "đầu vào" (quản lý chỉ tiêu biên chế và định mức kinh phí cứng nhắc) sang phương thức quản lý sản phẩm "đầu ra". Theo đó, nhà nước giao quyền tự chủ cho các đơn vị tự bố trí nhân sự, tiết kiệm định mức, gắn việc cấp phát ngân sách với tiến độ, số lượng và chất lượng sản phẩm công việc thực tế được hoàn thành.
Kết luận
Đề tài khoa học mã số 2000-98-083 do TS. Nguyễn Ngọc Hiến chủ nhiệm đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về kinh tế học công cộng và định hình rõ bản chất, đặc trưng của quản lý tài chính công trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Bằng phương pháp phân tích thực tiễn công phu giai đoạn 1991–2001, công trình đã vạch rõ những tồn tại cố hữu về thất thu thuế, dàn trải chi tiêu và cơ chế ngân sách mang tính hình thức ở nước ta. Hệ thống các quan điểm, nguyên tắc phân cấp và giải pháp đổi mới quy trình ngân sách do đề tài đề xuất đã đóng góp luận cứ khoa học quan trọng phục vụ quá trình sửa đổi Luật Ngân sách nhà nước và cải cách nền hành chính quốc gia đầu thế kỷ XXI.