Luận án tiến sĩ về khả năng tự tạo việc làm cho thanh niên Việt Nam

Luận án tiến sĩ kinh tế phân tích giải pháp tăng cường khả năng tự tạo việc làm cho thanh niên Việt Nam, góp phần phát triển kinh tế bền vững.

Chuyên ngành

Kinh tế lao động

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án

2006-2010

274
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG TỰ TẠO VIỆC LÀM CỦA THANH NIÊN

1.1. Các khái niệm cơ bản về tự tạo việc làm và khả năng tự tạo việc làm

1.2. Những đặc điểm của thanh niên liên quan tới khả năng tự tạo việc làm

1.3. Tổng quan các nghiên cứu về khả năng tự tạo việc làm và các yếu tố ảnh hưởng

1.4. Khung lý thuyết nghiên cứu khả năng tự tạo việc làm của thanh niên và các yếu tố ảnh hưởng ở Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Cách tiếp cận vĩ mô

2.2. Cách tiếp cận vi mô

2.3. Phương pháp định tính

3. CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH KHẢ NĂNG TỰ TẠO VIỆC LÀM CỦA THANH NIÊN VIỆT NAM

3.1. Khả năng tự tạo việc làm của thanh niên Việt Nam

3.1.1. Khả năng tự tạo việc làm của thanh niên – Phân tích theo quá trình tự tạo việc làm

3.1.1.1. Các giai đoạn của quá trình tự tạo việc làm
3.1.1.2. “Tam giác khả năng” tự tạo việc làm

3.1.2. Khả năng tự tạo việc làm của thanh niên – Phân tích theo kết quả tự tạo việc làm

3.1.2.1. Quy mô tự tạo việc làm của thanh niên
3.1.2.2. Cơ cấu, chất lượng tự tạo việc làm của thanh niên

3.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tự tạo việc làm của thanh niên Việt Nam

3.2.1. Nhóm yếu tố vĩ mô

3.2.1.1. Nhóm yếu tố tác động đến cầu lao động
3.2.1.2. Đặc điểm lao động, việc làm của thanh niên
3.2.1.3. Đặc điểm chung của thị trường lao động

3.2.2. Nhóm yếu tố vi mô

3.2.2.1. Vốn con người và vốn xã hội của thanh niên Việt Nam
3.2.2.2. Đặc tính nhân khẩu học và gia đình
3.2.2.3. Kiểm định các giả thuyết nghiên cứu

4. CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP CHỦ YẾU TĂNG CƯỜNG KHẢ NĂNG TỰ TẠO VIỆC LÀM CỦA THANH NIÊN VIỆT NAM

4.1. Quan điểm về khuyến khích tự tạo việc làm trong thanh niên

4.2. Các phát hiện chủ yếu là cơ sở đề xuất giải pháp

4.3. Giải pháp tăng cường khả năng tự tạo việc làm cho thanh niên Việt Nam

4.3.1. Cấp độ vi mô

4.3.1.1. Các nhà cung cấp dịch vụ hỗ trợ thanh niên tự tạo việc làm
4.3.1.2. Thanh niên và cộng đồng

PHỤ LỤC

PHỤ LỤC 1: Kết quả hồi quy Logistic đầy đủ

PHỤ LỤC 2: Bộ công cụ thu thập và phân tích dữ liệu định tính

PHỤ LỤC 3: Kết quả hồi quy số liệu mảng và các kiểm định với ĐTLĐVL 2006-2009

PHỤ LỤC 4: Phương pháp tính các xác suất dựa trên hệ số ước lượng hồi quy Logistic

PHỤ LỤC 5: Mẫu và kết quả phân tích định tính

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về khả năng tự tạo việc làm cho thanh niên Việt Nam

Khả năng tự tạo việc làm là một yếu tố quan trọng trong việc phát triển kinh tế và xã hội của Việt Nam. Thanh niên, với nguồn lực dồi dào và tiềm năng sáng tạo, đóng vai trò chủ chốt trong việc thúc đẩy nền kinh tế. Việc khuyến khích thanh niên tự tạo việc làm không chỉ giúp giảm tỷ lệ thất nghiệp mà còn tạo ra nhiều cơ hội việc làm mới cho xã hội.

1.1. Khái niệm về tự tạo việc làm và tầm quan trọng

Tự tạo việc làm được hiểu là khả năng của cá nhân trong việc tạo ra công việc cho chính mình. Điều này không chỉ giúp thanh niên có thu nhập mà còn phát huy tính sáng tạo và khả năng tự lập.

1.2. Đặc điểm của thanh niên Việt Nam trong việc tự tạo việc làm

Thanh niên Việt Nam thường có tinh thần khởi nghiệp cao, nhưng cũng gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn và kiến thức cần thiết để khởi sự doanh nghiệp.

II. Những thách thức trong khả năng tự tạo việc làm của thanh niên

Mặc dù có nhiều tiềm năng, thanh niên Việt Nam vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc tự tạo việc làm. Những rào cản này có thể đến từ yếu tố kinh tế, xã hội và chính sách.

2.1. Rào cản về vốn và tài chính

Nhiều thanh niên không có đủ vốn để khởi nghiệp, dẫn đến việc họ không thể hiện thực hóa ý tưởng kinh doanh của mình. Các chương trình hỗ trợ tài chính cần được cải thiện để giúp thanh niên tiếp cận dễ dàng hơn.

2.2. Thiếu kiến thức và kỹ năng cần thiết

Nhiều thanh niên thiếu kiến thức về quản lý doanh nghiệp và kỹ năng cần thiết để khởi nghiệp. Việc đào tạo và cung cấp thông tin là rất cần thiết để nâng cao khả năng tự tạo việc làm.

III. Phương pháp tăng cường khả năng tự tạo việc làm cho thanh niên

Để tăng cường khả năng tự tạo việc làm cho thanh niên, cần có những phương pháp và giải pháp cụ thể. Các giải pháp này cần được triển khai đồng bộ và hiệu quả.

3.1. Đào tạo và phát triển kỹ năng

Cung cấp các khóa đào tạo về khởi nghiệp và quản lý doanh nghiệp cho thanh niên sẽ giúp họ tự tin hơn trong việc tự tạo việc làm.

3.2. Hỗ trợ tài chính và nguồn lực

Các chương trình hỗ trợ tài chính từ chính phủ và các tổ chức phi chính phủ cần được mở rộng để giúp thanh niên có cơ hội khởi nghiệp.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về tự tạo việc làm

Nghiên cứu cho thấy rằng việc tự tạo việc làm không chỉ giúp thanh niên có thu nhập mà còn góp phần vào sự phát triển kinh tế của địa phương. Các mô hình khởi nghiệp thành công cần được nhân rộng.

4.1. Các mô hình khởi nghiệp thành công

Nhiều thanh niên đã thành công trong việc khởi nghiệp, tạo ra việc làm cho bản thân và người khác. Những mô hình này cần được nghiên cứu và nhân rộng.

4.2. Tác động của tự tạo việc làm đến phát triển kinh tế

Tự tạo việc làm không chỉ giúp giảm tỷ lệ thất nghiệp mà còn thúc đẩy sự phát triển kinh tế bền vững cho địa phương và quốc gia.

V. Kết luận và triển vọng tương lai cho khả năng tự tạo việc làm

Khả năng tự tạo việc làm cho thanh niên Việt Nam cần được chú trọng hơn nữa trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Các chính sách hỗ trợ cần được cải thiện để tạo điều kiện thuận lợi cho thanh niên.

5.1. Tương lai của tự tạo việc làm tại Việt Nam

Với sự phát triển của công nghệ và thị trường, khả năng tự tạo việc làm sẽ ngày càng trở nên quan trọng hơn đối với thanh niên Việt Nam.

5.2. Đề xuất chính sách hỗ trợ thanh niên

Cần có các chính sách hỗ trợ cụ thể nhằm khuyến khích thanh niên tự tạo việc làm, từ đó góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

27/07/2025
Luận án tiến sĩ kinh tế tăng cường khả năng tự tạo việc làm cho thanh niên việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG TỰ TẠO VIỆC LÀM CỦA THANH NIÊN 1.1 Các khái niệm cơ bản về tự tạo việc làm và khả năng tự tạo việc làm 1.1 Việc làm và tự tạo việc làm  Khái niệm việc làm Về mặt lý luận, bản chất của việc làm được chỉ rõ trong khái niệm sau: “Việc làm là phạm trù chỉ trạng thái kết hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần 1 thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ.) để sử dụng sức lao động đó”. Như vậy, việc làm được cấu thành bởi ba yếu tố: (i) sức lao động (v); (ii) những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ.) để sử dụng sức lao động (C); và (iii) môi trường kết hợp chúng. Các loại hình việc làm, ngoài việc phân chia theo lĩnh vực, ngành nghề, trình độ, còn được phân chia theo một số đặc tính cần quan tâm khác nữa. Nếu trình độ của (v) và trình độ tổ chức sản xuất kinh doanh có thể khai thác hiệu quả và triệt để tiềm năng của (C) thì chúng ta có “việc làm hợp lý”, còn nếu chỉ sử dụng hết thời gian lao động cần thiết thì chúng ta có “việc làm đầy đủ” và ngược lại.

Ngoài ra, nếu (v) cố định và (C) nhỏ thì việc kết hợp này sẽ tạo nên “việc làm tạm thời”, nhưng nếu tốc độ của (C) tăng nhanh hơn tốc độ tăng của (v) sẽ tạo được “việc làm ổn định”. Hiện nay, một tiêu thức việc làm được sử dụng khá rộng rãi đó là “việc làm bền vững”. Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), việc làm bền vững là cơ hội việc làm có năng suất, có mức thu nhập công bằng, bảo đảm an toàn ở nơi làm việc và bảo trợ xã hội về mặt gia 2 đình. 1 Phạm ðức Thành và Mai Quốc Chánh (1998).

Giáo trình Kinh tế lao động. NXB Giáo dục, tr. 2 Ngài Tổng giám đốc ILO lần đầu tiên đề xuất khái niệm “việc làm bền vững- decent work” trong báo cáo của mình tại Hội nghị lần thứ 87 của ILO vào tháng 6 1 năm 1999. Từ đó, khái niệm này ít thay đổi, 0 mà sự quan tâm chủ yếu hướng tới phát triển các chỉ tiêu đánh giá “việc làm bền vững” phù hợp với các quốc gia và khu vực việc làm.

Các tài liệu có thể tham khảo thêm bao gồm: Decent work: Report of the Director-General (Geneva, 1999); Decent work in a modern welfare state: The case of Denmark, mimeographed document (Geneva, 2001a); Decent work and the informal economy (Geneva, 2002). 10 Trong thực tế, khái niệm về việc làm thường nhấn mạnh tới 2 tiêu thức cơ bản, đó là thu nhập và tính hợp pháp của các hoạt động lao động. Tại Việt Nam, điều 13, chương II “Việc làm” của Bộ luật Lao động có nêu: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”, như vậy, nội dung điều này cho thấy hai tiêu thức bắt buộc để xác định hoạt động lao động được thừa nhận là việc làm ở Việt Nam bao gồm tiêu thức về thu nhập và pháp lý. Trong công tác thống kê, điều tra khảo sát về lao động việc làm ở Việt Nam, các tiêu thức xác định việc làm có cụ thể hơn, việc làm của các thành viên hộ gia đình được định nghĩa là một trong ba loại được pháp luật của Việt Nam công nhận, bao gồm: Loại 1-Làm công: Làm các công việc để nhận tiền công, tiền lương bằng tiền mặt hoặc hiện vật cho công việc đó.

Người làm loại công việc này mang sức lao động (chân tay hoặc trí óc) của mình để đổi lấy tiền công, tiền lương, không tự quyết định được những vấn đề liên quan đến công việc mình làm như mức lương, số giờ làm việc, thời gian nghỉ phép. Loại 2- Tự làm: Làm các công việc để thu lợi nhuận cho bản thân, bao gồm sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản trên đất so chính thành viên đó sở hữu, quản lý hay có quyền sử dụng, hoặc hoạt động kinh tế ngoài nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản do chính thành viên đó làm chủ hay quản lý toàn bộ hoặc một phần; thành viên đó chi toàn bộ chi phí và thu toàn bộ lợi nhuận trong loại công việc này. Loại 3- Tự làm: Làm các công việc cho hộ gia đình mình nhưng không được trả thù lao dưới hình thức tiền công tiền lương cho công việc đó. Các công việc gồm sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản trên đất do chủ hộ hoặc một thành viên trong hộ sở hữu, quản lý hay có quyền sử dụng; hoặc hoạt động kinh tế ngoài nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản do chủ hộ hoặc một thành viên trong hộ làm chủ hoặc quản lý.

 Khái niệm về tạo việc làm và tự tạo việc làm 11 Trên lý thuyết, tạo việc làm là quá trình tạo ra số lượng, chất lượng tư liệu sản xuất, số lượng và chất lượng sức lao động và các điều kiện kinh tế xã hội khác 3 để kết hợp tư liệu sản xuất và sức lao động, đem lại thu nhập cho người lao động. Bên cạnh “tạo việc làm”, thuật ngữ “tự tạo việc làm” của người lao động được nhắc tới nhiều trong các văn bản chính sách về lao động và việc làm, thể hiện đường lối chủ trương của ðảng và nhà nước trong những năm gần đây. Nghị quyết ðại hội ðảng toàn quốc lần thứ X xác định rõ: “Phát triển thị trường lao động trong mọi khu vực kinh tế, tạo sự gắn kết cung-cầu lao động, phát huy tính tích cực của người lao động trong học nghề, tự tạo và tìm việc làm”. Các chương trình hỗ trợ tín dụng, chuyển giao công nghệ và dạy nghề giúp người lao động nói chung và thanh niên nói riêng đầu tư sản xuất kinh doanh, tự tạo việc làm là một trong những nội dung hoạt động của các Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm, giảm nghèo và dạy nghề đến năm 2010 và 2015.

Thuật ngữ này cũng xuất hiện trong giáo trình Kinh tế Nguồn nhân lực xuất bản năm 2008, và tự tạo việc làm được coi như là một trong những phương hướng tạo việc làm cho người lao động ở nước ta hiện nay. Tuy nhiên, chưa có một tài liệu nào chính thức đưa ra khái niệm về “tự tạo việc làm” của người lao động. Trước khi đề xuất một khái niệm phản ánh bản chất của “tự tạo việc làm”, tác giả liệt kê một số trường hợp mà thuật ngữ “tự tạo việc làm” được sử dụng hoặc có nhiều sự tương đồng. Trên thế giới, có hai khái niệm rất gần với “tự tạo việc làm” là khái niệm “tự làm chủ” và khái niệm “làm việc tự do”.

Còn ở Việt Nam, thuật ngữ “tự tạo việc làm” thường được sử dụng nhằm tới hiện tượng khởi sự doanh nghiệp tư nhân, hay công việc kinh doanh nhỏ, doanh nghiệp vi mô, kinh tế hộ gia đình, và trang trại gia đình.  Tự làm (self-employed): là quá trình một người tự làm việc cho bản thân mình (không làm công cho ai và không được ai thuê mướn hay trả công) với những công việc kinh doanh hay chuyên môn họ làm chủ hoặc những công việc theo hợp đồng độc 3 PGS. TS Trần Xuân Cầu, PGS. TS Mai Quốc Chánh chủ biên, Giáo trình Kinh tế Nguồn nhân lực, NXB ðH KTQD 2008, tr 261.

12 lập mà họ kiểm soát toàn bộ quá trình tổ chức thực hiện và có được thu nhập từ 4 những công việc này. “Tự làm” là một hình thức làm việc để phân biệt với “làm công ăn lương”. Ở Việt Nam, “tự làm” trong các cuộc Khảo sát mức sống hộ gia đình và ðiều tra Lao 5 động-việc làm lại bao gồm một trong 2 dạng sau : (i) Nhóm làm chủ cơ sở sản xuất kinh doanh, hoặc tự làm cho bản thân và gia đình: Làm các công việc để thu lợi nhuận cho bản thân, bao gồm sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản trên đất do chính thành viên đó sở hữu, quản lý hay có quyền sử dụng; hoặc hoạt động kinh tế ngoài nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản do chính thành viên đó làm chủ hay quản lý; thành viên đó chi toàn bộ chi phí và thu toàn bộ lợi nhuận trong loại công việc này. (ii) Nhóm lao động gia đình: Làm các công việc cho hộ gia đình mình nhưng không được trả thù lao dưới hình thức tiền công, tiền lương hay lợi nhuận cho công việc đó, gồm sản xuất nông-lâm nghiệp, thủy sản trên đất do chủ hộ hoặc một thành viên trong hộ sở hữu, quản lý hay có quyền sử dụng; hoặc hoạt động kinh tế ngoài nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản do chính thành viên đó làm chủ hay quản lý.

6  Làm việc tự do (freelance) : là quá trình mà người lao động làm việc độc lập không có đơn vị quản lý trong những lĩnh vực ngành nghề mà người đó làm việc với một lượng thời gian nhất định (thường là bán thời gian) và đem lại thu nhập hợp pháp. Những công việc phù hợp với hình thức làm việc tự do là những công việc có thể đòi hỏi tính sáng tạo, kỹ năng linh hoạt, trình độ chuyên môn cao như thiết kế, sáng tác, quản lý, nghiên cứu, tư vấn cấp cao…. Tuy nhiên, ở Việt Nam, làm việc tự do cũng còn phổ biến ở những công việc giản đơn không đòi hỏi kỹ năng cao, công việc 13 4 http://en.org/wiki/Self-employed. 5 Sổ tay Khảo sát mức sống hộ gia đình 2006, trang 85.org/wiki/Freelancer 14 theo mùa vụ nên không thích hợp thuê lao động toàn bộ thời gian như: vận chuyển hàng hóa, giải đáp thắc mắc qua điện thoại, nhân viên tư vấn, phục vụ… Nếu xét ở khía cạnh không chịu sự quản lý của ai hoặc tổ chức nào thì đây cũng là một hình thức tự làm.

Những người làm việc tự do cũng có thể kết hợp với nhau để thực hiện những công việc đòi hỏi lao động nhóm, hoặc ký kết với một công ty trung gian hoặc trực tiếp với khách hàng để cung cấp sản phẩm và dịch vụ, là những hợp đồng được ký kết theo từng công việc và nhận thù lao với công việc đó. Tuy nhiên, trong những trường hợp, những người làm việc tự do này chỉ có sức lao động và kỹ năng của mình để đảm nhận công việc và nhận thù lao thì thực chất cũng chỉ là làm công mà thôi. Chỉ có những trường hợp người làm việc tự do thực sự đầu tư vào quá trình tổ chức kết hợp các nguồn lực (vốn, công nghệ, nhân lực) để hoàn thành hợp đồng mới được coi là tự làm (chẳng hạn như làm thầu khoán).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ