phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được trình bày trong ba chương: - Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận liên quan đến hiệu quả kinh doanh và hiệu quả kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ - Chƣơng 2: Phương pháp nghiên cứu - Chƣơng 3: Đánh giá thực trạng về hiệu quả kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ tại Công ty Cổ phần Bảo hiểm Ngân hàng Nông nghiệp - Chƣơng 4: Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh tại Công ty Cổ phần Bảo hiểm Ngân hàng Nông nghiệp 3 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN HIỆU QUẢ KINH DOANH VÀ HIỆU QUẢ KINH DOANH BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về hiệu quả kinh doanh tại các công ty Bảo hiểm phi nhân thọ Nâng cao hiệu quả kinh doanh từ lâu đã trở thành đề tài quan trọng không chỉ của các nhà nghiên cứu mà là mối quan tâm của các doanh nghiệp. Cho đến nay đã có nhiều đề tài, công trình nghiên cứu khoa học nghiên cứu đề cập tới nội dung này. Trong đó, có thể kể tới một số công trình, đề tài tiêu biểu như sau: Luận án: “Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ của các doanh nghiệp bảo hiểm Nhà nước ở Việt Nam trong điều kiện mở cửa và hội nhập” của PGS.TS Đoàn Minh Phụng (2007) thực hiện tại Học viện Tài chính đã hệ thống toàn bộ những lý luận về hiệu quả kinh doanh bảo hiểm từ cách tiếp cận, quan niệm, các tiêu chí xác định đến các nhân tố ảnh hưởng.TS Đoàn Minh Phụng đã tiến hành phân tích hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước, từ đó rút ra những kết quả đạt được, những tồn tại cần khắc phục và nguyên nhân của nó.
Thông qua đó, tác giả đã đưa ra hệ thống giải pháp và kiến nghị cho việc tìm kiếm con đường nâng cao hiệu quả kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ trong thực tiễn quản trị kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm và hoàn thiện môi trường pháp lý cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm của Nhà nước. Đây là một luận án có kết cấu chặt chẽ, văn phong rõ ràng và có ý nghĩ thực tiễn cao. Tuy nhiên, doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ là một phạm vi nghiên cứu rất rộng, với các doanh nghiệp bảo hiểm là doanh nghiệp kinh doanh có những tính chất đặc thù do đó những đặc điểm về ngành nghề kinh doanh cũng ảnh hưởng không ít tới hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. 4 z Hà Trúc Quỳnh (2013), “Nâng cao hiệu quả kinh doanh tại Công ty Bảo Việt Phú Thọ”, Luận văn Thạc sỹ, Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh – Đại học Thái Nguyên đã đề cập đến hiệu quả kinh doanh tại Công ty Bảo Việt Phú Thọ là một doanh nghiệp cụ thể hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm.
Luận văn đưa ra những lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh doanh bảo hiểm của Công ty Bảo Việt Phú Thọ thông qua việc nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước Châu Âu, Trung Quốc tác giả đã rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Tuy nhiên, việc nghiên cứu hiệu quả kinh doanh bảo hiểm mà tác giả theo đuổi thiên nhiều về khía cạnh quản lý chứ ít quan tâm đến hiệu quả kinh doanh dưới góc độ tài chính. Lê Thị Huyền Trang (2015), “Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên bảo hiểm ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam”. Đề tài phân tích và đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên bảo hiểm ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam.
Từ đó đề xuất một số giải pháp góp phần cải thiện hiệu quả hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại doanh nghiệp này Như vậy, có thể thấy có một số đề tài đã nghiên cứu về vấn đề về nâng cao hiệu quả kinh doanh bảo hiểm tại một số công ty cụ thể ở Việt Nam; từ thực trạng hiệu quả hoạt động kinh doanh tại các doanh nghiệp đã đề xuất các biện pháp nhằm hạn chế, khắc phục. Tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào đi sâu vào các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh; chưa hệ thống đầy đủ các chi tiêu đánh giá nói chung và nghiên cứu về công ty ABIC nói riêng. Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh doanh 1.1 Khái niệm hiệu quả kinh doanh Hiệu quả kinh doanh là phạm trù phản ánh trình độ sử dụng các nguồn 5 z lực (nhân tài, vật lực, tiền vốn.) để đạt được mục tiêu xác định. Trình độ lợi dụng các nguồn lực chỉ có thể được đánh gia trong mối quan hệ với kết quả tạo ra để xem xét xem với mỗi sự hao phí nguồn lực xác định có thể tạo ra ở mức độ nào.
Vì vậy, có thể mô tả hiệu quả kinh doanh bằng các công thức chung nhất sau đây: Trong đó: H: Hiệu quả kinh doanh K: Kết quả đạt được C: Hao phí nguồn lực cần thiết gắn với kết quả đó. Hiệu quả kinh doanh phản ánh mặt chất lượng các hoạt động kinh doanh, trình độ nguồn lực sản xuất trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp trong sự vận động không ngừng của các quá trình sản xuất kinh doanh, không phụ thuộc vào tốc độ biến động của từng nhân tố. Từ khái niệm về hiệu quả nêu ở trên đã khẳng định bản chất của hiệu quả kinh doanh là phản ánh được trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp để đạt được các mục tiêu kinh tế - xã hội và nó chính là hiệu quả của lao động xã hội được xác định trong mối tương quan giữa lượng kết quả hữu ích cuối cùng thu được với lượng hao phí lao động xã hội bỏ ra. Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp phải được xem xét một cách toàn diện cả về không gian và thời gian, cả về mặt định tính và định lượng.
Về mặt thời gian, hiệu quả mà doanh nghiệp đạt được trong từng thời kỳ, từng giai đoạn không được làm giảm sút hiệu quả của các giai đoạn, các thời kỳ, chu kỳ kinh doanh tiếp theo. Điều đó đòi hỏi bản thân doanh nghiệp không được vì lợi ích trước mắt mà quên đi lợi ích lâu dài. Trong thực tế kinh doanh, điều này dễ xảy ra khi con người khai thác sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên, môi trường và 6 z cả nguồn lao động. Không thể coi tăng thu giảm chi là có hiệu quả khi giảm một cách tuỳ tiện, thiếu cân nhắc các chi phí cải tạo môi trường, đảm bảo môi trường sinh thái, đầu tư cho giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực.
Hiệu quả kinh doanh chỉ được coi là đạt được một cách toàn diện khi hoạt động của các bộ phận mang lại hiệu quả không ảnh hưởng đến hiệu quả chung (về mặt định hướng là tăng thu giảm chi). Điều đó có nghĩa là tiết kiệm tối đa các chi phí kinh doanh và khai thác các nguồn lực sẵn có làm sao đạt được kết quả lớn nhất. Tổng quan về bảo hiểm phi nhân thọ 1. Khái niệm bảo hiểm phi nhân thọ và doanh nghiệp bảo hiểm Mặc dù bảo hiểm ra đời từ lâu, song cho đến nay vẫn có nhiều tác giả đưa ra những quan niệm khác nhau về bảo hiểm.
Sự khác nhau đó xuất phát từ việc nhìn nhận bảo hiểm ở các góc độ và cách thức tiếp cận khác nhau. Về phương diện kinh tế, bảo hiểm là biện pháp chuyển giao rủi ro được thực hiện thông qua”hợp đồng bảo hiểm, trong đó bên mua bảo hiểm chấp nhận trả phí bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm cam kết bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. Về phương diện tài chính, bảo hiểm chính là sự vận động các nguồn tài lực trong việc huy động sự đóng góp (phí bảo hiểm) của các tổ chức kinh tế, cá nhân tham gia bảo”hiểm để lập quỹ bảo hiểm và phân phối, sử dụng nó bồi thường những tổn thất vật chất, chi trả cho tai nạn bất ngờ xảy ra đối với các đối tượng bảo hiểm. Theo Điều 3 - Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000, doanh nghiệp bảo hiểm là doanh nghiệp được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan để kinh doanh bảo hiểm, tái bảo hiểm.
Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ là tổ chức hoạt động kinh doanh 7 z nhằm mục đích sinh lời”theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bồi thường”cho người được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. Phân loại bảo hiểm - Phân loại nghiệp vụ bảo hiểm theo Luật Kinh doanh bảo hiểm: + Bảo hiểm nhân thọ + Bảo hiểm phi nhân thọ + Bảo hiểm sức khỏe - Phân loại nghiệp vụ bảo hiểm theo đối tượng bảo hiểm: + Bảo hiểm tài sản + Bảo hiểm trách nhiệm dân sự + Bảo hiểm con người - Phân loại nghiệp vụ bảo hiểm theo kỹ thuật quản lý hợp đồng bảo hiểm: + Các nghiệp vụ bảo hiểm áp dụng kỹ thuật phân chia + Các nghiệp vụ bảo hiểm áp dụng kỹ thuật tồn tích - Phân loại nghiệp vụ bảo hiểm theo hình thức bảo hiểm: + Bảo hiểm tự nguyện + Bảo hiểm bắt buộc 1. Đặc điểm bảo hiểm phi nhân thọ Hoạt động kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ vừa có tính kinh tế vừa có tính xã hội, vừa mang đặc trưng của một ngành dịch vụ đặc biệt. Bảo hiểm là ngành dịch vụ đặc biệt với những đặc trưng cơ bản sau: Thứ nhất, sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ là sản phẩm không hiện hữu, không tồn tại dưới dạng vật thể, là sự đảm bảo về mặt vật chất trước những rủi ro cho khách hàng được bảo hiểm đi kèm theo là các dịch vụ hỗ trợ liên quan.
Thứ hai, sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ là sản phẩm có “hiệu quả xê 8 z dịch”: Đối với sản phẩm bảo hiểm, công ty bảo hiểm thu tiền trước của khách hàng, nếu không xảy ra sự kiện bảo hiểm, công ty sẽ không phải thanh toán gì cho khách hàng. Tuy nhiên nếu có sự kiện bảo hiểm xảy ra thì công ty có thể phải trả cho khách hàng số tiền rất lớn, thông thường là từ 100 – 2000 lần số tiền thu được của khách hàng trước đó.