TÂM LÝ HỌC SƯ PHẠM 2. ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ CỦA HSSV HỌC NGHỀ Học sinh, sinh viên học nghề thường bao gồm những thanh niên đã tốt nghiệp phổ thông trung học, một số ít sau khi tốt nghiệp trung học cơ sở có tham gia lao động ở các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội hoặc vừa hoàn thành nghĩa vụ quân sự để được vào học các trường dạy nghề (độ tuổi khoảng từ 17 đến 20). Đó là những người ở độ tuổi sung sức, có thể chất phát triển nhất trong cuộc đời. Quá trình học tập ở các trường dạy nghề đòi hỏi các em phải tách khỏi cuộc sống gia đình và gắn liền với tập thể trong mọi hoạt động từ học tập, sinh hoạt, ăn ở đến lao động, hội họp.
Vì vậy, trong mọi hoạt động, các em phải điều chỉnh các hành vi, cử chỉ của mình cho thích hợp với cuộc sống tập thể. Đó là thời kỳ chuẩn bị cho các em chuyển hóa từ học sinh dần dần thành những người lao động trong các tập thể lao động ở các ngành kinh tế và các lĩnh vực hoạt động xã hội. Sau này, họ sẽ là những công nhân, nhân viên kỹ thuật, nghiệp vụ trên mọi lĩnh vực: sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, dịch vụ, y tế. Đặc điểm nhận thức Do sự hoàn thiện của hệ thần kinh mà khả năng nhận thức của thanh niên học nghề rất phát triển.
Sự tiếp thu tri thức nghề nghiệp và rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp được gắn liền với việc rèn luyện các phẩm chất đạo đức của thanh niên học nghề – những người lao động mới, người công dân trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tính chất và nội dung các môn học hoàn toàn thay đổi so với thời kỳ học phổ thông trước đó. Các phương thức lĩnh hội kiến thức và rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp cũng hoàn toàn khác trước. Điều đó không chỉ thể hiện ở số lượng, mức độ sâu sắc của các sự kiện được nhận thức, mà còn ở chính bản thân các quá trình tâm lý, các trạng thái tâm lý.
Các quá trình nhận thức như tư duy, tưởng tượng, chú ý, trí nhớ, ngôn ngữ, cảm giác, tri giác và biểu tượng kỹ thuật của các em đã được phát triển với chất lượng mới. Khả năng phân biệt màu sắc, ánh sáng, độ tinh của thính giác cũng như sự tri giác không gian tăng lên rất nhiều so với lứa tuổi trước. Khả năng tập trung và phân phối chú ý tăng lên rõ rệt nhờ sự ý thức được trong quá trình chú ý, nhờ khả năng tự kiềm chế mình. Nhìn chung, thanh niên học nghề có có khả năng chú ý có chủ định tốt, nhưng cũng có hiện tượng vờ chú ý, một hiện tượng không có trong tuổi nhỏ.
Tư duy của họ khá phát triển, đặc biệt là tư duy trừu tượng logic. Ở họ cũng có khả năng tìm hiểu, tự học, tự quan sát các sự vật hiện tượng và rất nhạy cảm đối với các hành vi của những người xung quanh. Nhờ khả năng phân tích, tổng hợp, so sánh đã phát triển nên họ có khả năng nhìn ra những gì là chủ yếu, thứ yếu ở các đối tượng, các vấn đề đang được họ quan tâm. Càng về cuối, tính độc lập trong học tập, trong rèn luyện càng được bộc lộ rõ hơn.
Đặc điểm tình cảm, ý chí Tuổi thanh niên học nghề là lứa tuổi đẹp nhất trong cuộc đời. Chính vì vậy, ta thường gọi lứa tuổi này bằng một từ rất đẹp: tuổi xuân (tuổi thanh xuân). Đây là thời kỳ trẻ trung, sung túc của các loại cảm xúc, tình cảm như: tình yêu cuộc sống, yêu đời, 32 yêu thích nghề nghiệp, yêu bạn bè, tình yêu nam nữ. Nhìn chung, tình cảm ở họ thường nở rộ trên nhiều mặt.
Thanh nên học nghề thường rất yêu đời và lạc quan. Tình yêu cuộc sống thường làm cho họ nhìn thiên về mặt thuận lợi, mặt “hồng” của cuộc sống. Họ thường xuyên xây dựng mơ ước của mình bẵng những thuận lợi, đẹp đẽ. Ở họ, thường ít lường trước những khó khăn, vấp váp trong cuộc sống.
Nhưng cũng nhờ có sự yêu đời, lạc quan mà ở thanh niên học nghề thường có một phẩm chất rất quý: đó là sự vươn tới phía trước, bất chấp những khó khăn thử thách, sẵn sàng vượt qua mọi trở ngại để thực hiện mục đích đã được ý thức, đã được đặt ra. Đây cũng là lứa tuổi có nhiều bạn hơn các lứa tuổi khác. Một mặt, do sự giao tiếp, do chưa có gia đình; mặt khác, do các loại hoạt động xã hội đa dạng của lứa tuổi trẻ mà ở họ dễ xây dựng và giữ lại tình bạn. Trong đó, những thanh niên có xu hướng xã hội rõ ràng, tế nhị trong giao tiếp, rộng lượng, ân cần giúp đỡ người khác và có tâm hồn phong phú thường là những người có nhiều bạn hơn những người khác.
Tình bạn của thanh niên học nghề chi phối và ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động cũng như sự hình thành nhân cách của họ. Thanh niên học nghề cần có bạn và cần tình bạn, họ không thể sống một cách cô độc mà không có bạn. Loại tình cảm này ở họ được xây dựng trên nhiều cơ sở khác nhau: có khi từ cùng sở thích và hứng thú, có khi từ sự tương hợp các nét tính cách, có khi từ sự giống nhau về năng lực, cùng quê hương… Nhìn chung, tình bạn ở họ được xây dựng với thái độ chân thành, dễ thấy. Khi đã là bạn thân, họ thường tâm sự với nhau những điều thầm kín nhất, cùng hành động, giúp nhau khi hoạn nạn, san sẻ với nhau những lúc vui, lúc buồn.
Do đặc điểm trên mà ở thanh niên học nghề, ta thường thấy tình bạn ở họ có nhiều biểu hiện cụ thể, dễ thấy. Tình bạn đã làm cho họ hẹn gặp nhau trò chuyện, thư từ cho nhau, đi chơi với nhau, ăn với nhau. Những hành vi đó chúng ta thấy khá nhiều ở ngoài giờ lên lớp, người giờ thực tập ở trường. Vì vậy, giáo viên cần giúp đỡ học sinh để họ xây dựng được tình bạn với mục đích chân chính.
Quan hệ bạn bè tốt đẹp phải là quan hệ bình đẳng, cùng giúp nhau học tập, tu dưỡng để tiến bộ. Mọi sinh hoạt của các cặp bạn bè và các nhóm cũng phải theo hướng đó. Chỉ có như vậy mới hạn chế được những lêch lạc trong tình bạn của các em. Trong thanh niên học sinh học nghề, còn có một loại tình cảm mới chớm nở nhưng khác hẳn thanh niên học sinh phổ thông là lòng yêu nghề.
Nhìn chung, lòng yêu nghề càng ngày càng được hình thành và phát triển đúng đắn trong quá trình học tập tại các trường dạy nghề và sau này khi trực tiếp tham gia lao động sản xuất. Khi nguyện vọng của học sinh phù hợp với sự phân công công việc của tổ chức và khi thanh niên ý thức rõ ràng trách nhiệm của mình trước đòi hỏi của xã hội thì lòng yêu nghề có cơ sở để phát triển. Nhờ có lòng yêu nghề mà học sinh yên tâm học tập, hăng say học tập và lao động, công tác cũng như tu dưỡng. Tuy nhiên, tình cảm nghề nghiệp này chỉ được xây dựng lành mạnh trên cơ sở cá nhân có nhận thức đúng đắn.
Khi mới bước chân vào các trương nghề, lòng yêu nghề của học sinh có khi chưa được hình thành hoặc nếu mới chớm nở thì cũng chỉ mơ 33 hồ, chưa có cơ sở đúng hướng vì họ chưa thực sự bước vào nghề. Sự đánh giá về nghề nghiệp thường là do dư luận xã hội và do những nhận thức sai lệch ở cùng lứa tuổi gây nên. Mặt khác, họ thường có mơ ước vào học tiếp ở các trường Cao đẳng và Đại học. Nhưng khi sự mơ ước không phù hợp với năng lực và trình độ hiện tại thì các em phải đi vào trường dạy nghề.
Sự thất vọng thường bao trùm lên suy nghĩ làm cho các em không nhận ra được rằng nghề nào cũng cao quý trong xã hội là khi và chỉ khi nào con người làm nghề gì, việc gì phù hợp với khả năng, trình độ của mình thì người đó mới thật sự hạnh phúc. Vả lại, con đường học tập và nghiên cứu của các em không phải đã chấm dứt khi bước vào các trường dạy nghề, con đường ấy vẫn mở ra cho các em và xã hội vẫn chờ đón những điều đó ở thanh niên học nghề. Tuy nhiên, không phải tất cả mọi thanh niên học nghề đều nhận thức được đầy đủ điều đó. Do đó, việc bồi dưỡng để có nhận thức đúng đắn về nghề đã học và xây dựng lòng yêu nghề là một yêu cầu rất quan trọng trong công tác giáo dục học sinh ở các trường dạy nghề.
Vì chỉ có yêu nghề, có hứng thú với nghề, học sinh học nghề mới say sưa học tập, lao động, tu dưỡng. Từ đó, ở họ mới nảy sinh sự sáng tạo, tìm tòi và đi sâu vào ngành nghề mình học. Và ngược lại, chỉ khi nào con người đi sâu vào nghề thì mới tìm thấy cái hay, cái hấp dẫn ở đó. Do đó, lòng yêu nghề làm cho con người đi sâu vào nghề hơn và cũng nhờ quá trình tìm tòi, đi sâu vào nghề mà lòng yêu nghề càng có cơ sở để phát triển cao hơn nữa.
Một loại tình cảm nữa cũng được hình thành và phát triển ở thanh niên học nghề là tình yêu nam nữ. Ở thanh niên học nghề, tình cảm này thường có màu sắc đặc biệt: thơ mộng, thuần khiết và dễ dãi. Họ thường mến nhau vì cùng chung lý tưởng, cùng sở thích, hứng thú và vì sự hấp dẫn bởi vẻ đẹp của con người cũng như các phẩm chất đạo đức. Trong tình yêu, họ không tính toán đến mặt vật chất và ít lường thấy hết những khó khăn.
Tình yêu nam nữ ở lứa tuổi này cũng có nhiều mặt tốt. Chẳng hạn, vì người mình yêu, vì những nhận xét tác động của bạn bè cùng lứa tuổi mà nam nữ thanh niên thường ý tứ, e dè trong sinh hoạt. Tình yêu được nhận thức đúng cũng sẽ giúp các em học tập tích cực hơn, biết giúp nhau học tập và tu dưỡng tốt hơn. Tuy nhiên, những mặt hạn chế thường xảy ra nhiều hơn, đặc biệt ở những thanh niên chưa thực sự trưởng thành.
Các em bỏ ra nhiều thời gian cho việc gặp gỡ, thư từ, cho việc chăm sóc bề ngoài của mình. Hơn nữa, các em chưa thực sự bước vào cuộc sống lao động, chưa có đủ kinh nghiệm và kiến thức thực tế cần thiết để xây dựng tình yêu nên tình yêu ở các em thiếu cơ sở chắc chắn, thiếu sự cân nhắc kỹ lưỡng.