Nghiên cứu tái sinh than hoạt tính bằng phương pháp hóa học tại Đại học Quốc gia Hà Nội

Luận văn thạc sĩ hóa học phân tích nghiên cứu tái sinh than hoạt tính bằng phương pháp hóa học, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp khả thi cho thực tiễn.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ Khoa học

2019

63
5
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. MỤC LỤC

1.1. Tình hình ô nhiễm môi trường ở Việt Nam

1.2. Ô nhiễm từ công nghiệp dệt nhuộm

1.3. Công nghệ xử lý nước thải dệt nhuộm

1.4. Tái sinh than hoạt tính

1.5. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.5.1. Mục đích nghiên cứu

1.5.2. Nội dung nghiên cứu

1.5.3. Hóa chất và thiết bị

1.5.4. Quy trình nghiên cứu

1.5.5. Phương pháp xử lý số liệu thực nghiệm

1.6. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

1.6.1. Các đặc trưng của vật liệu hấp phụ

1.6.2. Động học hấp phụ RB 19 trên than hoạt tính

1.6.3. Đẳng nhiệt hấp phụ RB 19 trên than hoạt tính

1.6.4. Kết quả tái sinh than hoạt tính sau hấp phụ

1.6.5. Khả năng hấp phụ của than ban đầu

1.6.6. Ảnh hưởng của tỉ lệ Fe(II):H2O2

1.6.7. Ảnh hưởng của tỉ lệ Fe(II): COD

1.6.8. Ảnh hưởng số lần tái sinh

TÀI LIỆU THAM KHẢO

MỞ ĐẦU

Tóm tắt

I. Tổng quan về tái sinh than hoạt tính bằng phương pháp hóa học

Than hoạt tính là một vật liệu hấp phụ quan trọng trong xử lý nước thải, đặc biệt là trong ngành dệt nhuộm. Việc tái sinh than hoạt tính bằng phương pháp hóa học không chỉ giúp tiết kiệm chi phí mà còn bảo vệ môi trường. Phương pháp này cho phép phục hồi khả năng hấp phụ của than hoạt tính sau khi đã sử dụng, từ đó nâng cao hiệu quả xử lý nước thải.

1.1. Định nghĩa và vai trò của than hoạt tính trong xử lý nước thải

Than hoạt tính là một dạng carbon có diện tích bề mặt lớn, được sử dụng để hấp phụ các chất ô nhiễm trong nước thải. Vai trò của nó trong xử lý nước thải là rất quan trọng, đặc biệt trong việc loại bỏ các hợp chất hữu cơ và màu sắc từ nước thải dệt nhuộm.

1.2. Lợi ích của việc tái sinh than hoạt tính

Tái sinh than hoạt tính giúp giảm thiểu lượng chất thải rắn, tiết kiệm chi phí mua mới và giảm thiểu tác động đến môi trường. Phương pháp hóa học cho phép phục hồi khả năng hấp phụ của than hoạt tính, từ đó nâng cao hiệu quả xử lý nước thải.

II. Vấn đề ô nhiễm môi trường từ nước thải dệt nhuộm

Ngành dệt nhuộm là một trong những ngành gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng nhất. Nước thải từ ngành này chứa nhiều hóa chất độc hại, bao gồm thuốc nhuộm và các hợp chất hữu cơ bền. Việc xử lý nước thải này là một thách thức lớn đối với các nhà máy dệt nhuộm.

2.1. Thành phần và tính chất của nước thải dệt nhuộm

Nước thải dệt nhuộm thường chứa các hợp chất hữu cơ, kim loại nặng và các chất độc hại khác. Đặc biệt, thuốc nhuộm có tính bền cao, khó phân hủy, gây ra ô nhiễm nghiêm trọng cho môi trường nước.

2.2. Tác động của ô nhiễm nước thải đến sức khỏe con người

Ô nhiễm từ nước thải dệt nhuộm không chỉ ảnh hưởng đến môi trường mà còn gây ra nhiều vấn đề sức khỏe cho con người. Các chất độc hại trong nước thải có thể gây ra các bệnh về da, hô hấp và thậm chí là ung thư.

III. Phương pháp hóa học tái sinh than hoạt tính hiệu quả

Có nhiều phương pháp hóa học để tái sinh than hoạt tính, trong đó phương pháp sử dụng hóa chất như H2O2, Fe(II) được đánh giá cao về hiệu quả. Những phương pháp này giúp phục hồi khả năng hấp phụ của than hoạt tính một cách nhanh chóng và hiệu quả.

3.1. Quy trình tái sinh bằng hóa chất H2O2

Quy trình này sử dụng H2O2 để oxy hóa các chất bám trên bề mặt than hoạt tính, giúp phục hồi khả năng hấp phụ. Nghiên cứu cho thấy rằng việc điều chỉnh tỉ lệ H2O2 và than hoạt tính là rất quan trọng để đạt được hiệu quả tối ưu.

3.2. Tái sinh than hoạt tính bằng Fe II

Phương pháp này sử dụng Fe(II) kết hợp với H2O2 để tạo ra các gốc tự do, giúp phân hủy các chất ô nhiễm bám trên than hoạt tính. Kết quả cho thấy rằng tỉ lệ Fe(II) và H2O2 ảnh hưởng lớn đến hiệu quả tái sinh.

IV. Ứng dụng thực tiễn của than hoạt tính tái sinh

Việc tái sinh than hoạt tính bằng phương pháp hóa học đã được áp dụng thành công trong nhiều nhà máy dệt nhuộm. Các nghiên cứu cho thấy rằng việc sử dụng than hoạt tính tái sinh không chỉ tiết kiệm chi phí mà còn nâng cao hiệu quả xử lý nước thải.

4.1. Kết quả nghiên cứu về hiệu quả tái sinh

Nghiên cứu cho thấy rằng khả năng hấp phụ của than hoạt tính sau khi tái sinh bằng phương pháp hóa học có thể phục hồi lên đến 90%. Điều này cho thấy tính khả thi của phương pháp này trong thực tiễn.

4.2. Các ứng dụng khác của than hoạt tính tái sinh

Ngoài việc xử lý nước thải, than hoạt tính tái sinh còn được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác như lọc không khí, xử lý khí thải và trong ngành thực phẩm. Điều này mở ra nhiều cơ hội mới cho việc sử dụng than hoạt tính.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của tái sinh than hoạt tính

Tái sinh than hoạt tính bằng phương pháp hóa học là một giải pháp hiệu quả cho vấn đề ô nhiễm nước thải từ ngành dệt nhuộm. Với sự phát triển của công nghệ, phương pháp này hứa hẹn sẽ ngày càng được cải tiến và ứng dụng rộng rãi hơn trong tương lai.

5.1. Tương lai của công nghệ tái sinh than hoạt tính

Công nghệ tái sinh than hoạt tính sẽ tiếp tục phát triển với nhiều cải tiến về quy trình và hóa chất sử dụng. Điều này sẽ giúp nâng cao hiệu quả và giảm thiểu chi phí cho các nhà máy.

5.2. Khuyến nghị cho các nhà máy dệt nhuộm

Các nhà máy dệt nhuộm nên xem xét áp dụng phương pháp tái sinh than hoạt tính để giảm thiểu ô nhiễm môi trường và tiết kiệm chi phí. Việc đầu tư vào công nghệ này sẽ mang lại lợi ích lâu dài cho cả doanh nghiệp và môi trường.

16/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Trong những năm vừa qua, nền kinh tế của nƣớc ta đã có những bƣớc phát triển vƣợt bậc, giúp đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân đƣợc nâng cao. Những thành tựu đã đạt đƣợc có sự đóng góp chính của nền công nghiệp trong nƣớc. Do đó, chiến lƣợc phát triển công nghiệp luôn đƣợc Đảng, chính phủ quan tâm hàng đầu và coi đây là ngành chiếm tỉ trọng lớn trong nền kinh tế cũng nhƣ xuất khẩu. Trong số các ngành công nghiệp thì dệt may có vai trò quan trọng, là ngành có kim ngạch xuất khẩu đứng thứ hai cả nƣớc.

Toàn ngành đang sử dụng hơn 2,5 triệu lao động (chiếm hơn 20 % lao động khu vực công nghiệp hay gần 5 % tổng lực lƣợng lao động của cả nƣớc)[4]. Kim ngạch xuất khẩu năm 2016 là 27,9 tỉ USD. Mục tiêu phát triển đến năm 2020 là 36 - 38 tỉ USD, đến năm 2030 là 64 - 67 tỉ USD[1]. Tuy nhiên, đây cũng là ngành đang đứng trƣớc những thách thức rất lớn về ô nhiễm môi trƣờng, nhất là ô nhiễm từ nƣớc thải.

Dệt nhuộm là một trong những ngành tiêu thụ nƣớc và tạo ra nƣớc thải nhiều nhất. Theo thống kê, để tạo ra 1 tấn vải cần sử dụng bình quân 12 - 300 m3 nƣớc. Mức độ ô nhiễm của nƣớc thải dệt nhuộm phụ thuộc vào loại và lƣợng hóa chât sử dụng, kết cấu mặt hàng sản xuất (tẩy trắng, nhuộm, in), tỉ lệ sử dụng sợi tổng hợp, loại hình công nghệ (gián đoạn, liên tục hay bán liên tục), và đặc tính máy móc sử dụng. Nhìn chung, thành phần của nƣớc thải ngành này rất phức tạp, bao gồm các loại muối tan, axít, kim loại nặng, chất ôxi hóa, chất tẩy rửa, và đặc biệt là thuốc nhuộm.

Thuốc nhuộm thƣờng là các hợp chất hữu cơ có cƣờng độ màu cao và rất bền nên khi thải ra môi trƣờng sẽ gây tác hai nghiệm trọng. Ủy ban Kinh tế Liên Hiệp Quốc tại Châu Âu (UNECE) đánh giá ngành dệt may xếp thứ 2 trong danh sách những ngành công nghiệp gây ô nhiễm môi trƣờng nƣớc nhất thế giới. Tại Việt Nam, Mặc dù số lƣợng nhà máy Dệt may có hệ thống xử lý nƣớc thải đã tăng lên đáng kể trong những năm gần nay nhƣng hầu nhƣ nƣớc thải sau xử lý đạt đuợc tiêu chuẩn/quy chuẩn quốc gia còn rất hạn chế[8]. Một trong những nguyên nhân chính là công nghệ xử lý chƣa phù hợp do công ty thiết kế không có kinh nghiệm hay trình độ chuyên môn yếu.

Các kết quả thanh kiểm tra 12 cơ sở phía Bắc, 9 cơ sở miền Trung và miền Nam do Tổng cục môi trƣờng thu thập cho thấy về độ màu, trừ 4 cơ sở không có số liệu thì chỉ có 1 cơ sở (1/17) đạt loại A, tiêu chuẩn loại B có thêm 5/17 cơ sở đạt. Vì vậy, xử lý nƣớc thải dệt nhuộm đang là bài toán cấp bách để phát triển công nghiệp dệt may đồng thời 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bảo vệ môi trƣờng đất nƣớc. Ngoài vấn đề nƣớc thải dệt nhuộm, nguồn nƣớc mặt trong những năm gần đây còn phát hiện ô nhiễm bởi các chất khó phân hủy sinh học khác nhƣ thuốc trừ sâu, diệt cỏ, chất phụ gia trong hệ trao đổi nhiệt công nghiệp, trong sơn,. Với việc mở rộng sản xuất, nếu không có các biện pháp quản lý và xử lý các chất thải thì tác hại đối với môi trƣờng ngày càng tăng, hàng xuất khẩu sẽ vƣớng vào hàng rào kỹ thuật.

Trƣớc tình hình đó, chúng ta cần có những giải pháp để hạn chế, phòng ngừa và xử lý ô nhiễm môi trƣờng đảm bảo phát triển xuất khẩu bền vững, giúp ta tránh đƣợc những tranh chấp thƣơng mại đang có xu hƣớng gia tăng sau khi Việt Nam gia nhập WTO. Có thể nói, các chất khó phân hủy nói chung và chất màu dệt nhuộm nói riêng là những chất hữu cơ tƣơng đối khó xử lý. Đến nay nhiều phƣơng pháp đã đƣợc đánh giá hiệu quả xử lý nhƣ nhóm các phƣơng pháp hóa lý (hấp phụ, keo tụ - tạo bông, keo tụ - điện hóa, tuyển nổi), nhóm các phƣơng pháp vi sinh (hiếu khí, yếm khí), nhóm các phƣơng pháp ôxi hóa tiên tiến (AOPs), phƣơng pháp lọc màng NF và RO. Các phƣơng pháp này đều tồn tại một số nhƣợc điểm nhƣ chi phí đầu tƣ và vận hành cao, quy trình làm việc phức tạp đòi hỏi cán bộ vận hành có trình độ và tập huấn kĩ (đối với AOPs, NF, RO), phát sinh chất thải thứ cấp (hấp phụ, keo tụ- tạo bông, keo tụ điện hóa, tuyển nổi), tốc độ chậm dẫn đến hệ thống yêu cầu không gian lớn (phƣơng pháp sinh học).

Do đó, việc ứng dụng vào thực tiễn để xử lý ở Việt Nam còn hạn chế. Trong số các phƣơng pháp hóa lý thì hấp phụ bằng than hoạt tính là phƣơng pháp đơn giản nhƣng hiệu quả xử lý rất cao. Nhƣợc điểm của phƣơng pháp này là sau một thời gian hoạt động, vật liệu hấp phụ (than hoạt tính) sẽ bão hòa và cần thay thế mới. Nếu có thể tái sinh để hoàn nguyên vật liệu đƣợc nhƣ ban đầu với chi phí rẻ thì đây sẽ là giải pháp rất khả thi để có thể ứng dụng trong thực tiễn.

Vì vậy, nội dung nghiên cứu của đề tài này là "Nghiên cứu tái sinh than hoạt tính bằng phƣơng pháp hóa học" nhằm góp phần tìm ra giải pháp phù hợp để xử lý các chất ô nhiễm bền cũng nhƣ màu dệt nhuộm trong điều kiện Việt Nam hiện nay. 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Tình hình ô nhiễm môi trƣờng ở Việt Nam Theo báo cáo môi trƣờng quốc gia năm 2016 của Bộ tài nguyên và môi trƣờng, chất lƣợng môi trƣờng nƣớc ta có chất lƣợng thấp[2]. Nguyên nhân chính của thực trạng này là do các hoạt động phát triển kinh tế xã hội.

Nhiều hoạt động ảnh hƣởng ở quy mô lớn và gây thiệt hạt nghiêm trọng, điển hình là sự cố môi trƣờng tại 4 tỉnh miền Trung liên quan đến công ty gang thép Formosa Hà Tĩnh. Tại các đô thị, môi trƣờng không khí bị ảnh hƣởng bởi các hoạt động giao thông, cơ sở công nghiệp và hoạt động xây dựng. Theo thống kê, hoạt động giao thông gây ra 70 % lƣợng khói bụi, 85 % lƣợng khí CO2, 95 % lƣợng các hợp chất hữu cơ tại Hà Nội. Đối với môi trƣờng nƣớc, đang có sức ép rất lớn từ sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp.

Tỷ lệ phần trăm lƣợng nƣớc thải đƣợc xử lý còn khá thấp, phần còn lại đƣợc thải trực tiếp vào đƣờng thoát nƣớc để ra sông. Đối với những sông có lƣu lƣợng nƣớc nhỏ, khả năng phục hồi hạn chế, chất lƣợng nƣớc bị suy giảm đáng kể ở các khu vực chảy qua nội thành, nội thị, điển hình nhƣ sông Nhuệ, sông Cầu, sông Sài Gòn. nhiều đoạn chảy qua các đô thị lớn có chất lƣợng nƣớc bị suy giảm rõ rệt gây ra mùi hôi thối. Tại nhiều đô thị, các kênh, mƣơng, hồ nội thành đã trở thành nơi chứa nƣớc thải sinh hoạt, nƣớc thải sản xuất, điển hình nhƣ tại Hà Nội, Tp.

Hồ Chí Minh. Có thể nói ô nhiễm môi trƣờng do nƣớc thải đang là vấn đề nổi cộm và gây ra nhiều bức xúc trong xã hội. Ô nhiễm bởi nƣớc thải: Các nguồn thải chính là nƣớc thải sinh hoạt đô thị, nƣớc thải công nghiệp, làng nghề, nông nghiệp (từ chăn nuôi). Ƣớc tính trung bình khoảng 80% lƣợng nƣớc cấp cho sinh hoạt trở thành nƣớc thải sinh hoạt.

Theo số liệu tính toán, Đông Nam Bộ và Đồng Bằng Sông Hồng là 2 vùng tập trung nhiều lƣợng nƣớc thải sinh hoạt nhất cả nƣớc. Theo số liệu thống kê năm 2015, trong tổng số 787 đô thị trên cả nƣớc có 40 đô thị có công trình xử lý nƣớc thải đạt tiêu chuẩn quy định. Tỷ lệ nƣớc thải sinh hoạt đƣợc xử lý mới đạt 10% - 11% (với tổng công suất xử lý khoảng 800.000 m3/ngày đêm) trên tổng số lƣợng nƣớc thải đô thị, tăng khoảng 4% - 5% so với năm 2010. Con số này còn rất nhỏ so với yêu cầu thực tế cần xử lý.

Nƣớc thải sinh hoạt chƣa qua xử lý vẫn đang tiếp tục là nguồn thải lớn, gây ô nhiễm môi trƣờng khu vực đô thị và các vùng lân cận. Đối với các khu công nghiệp (KCN), trong tổng 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com số 283 KCN đang hoạt động trong cả nƣớc có 212 KCN đã xây dựng hệ thống xử lý nƣớc thải tập trung (chiếm 74,9%), 24 KCN đang xây dựng hệ thống xử lý nƣớc thải tập trung (chiếm 11,5%), các KCN còn lại đang xây dựng lộ trình đầu tƣ hệ thống xử lý nƣớc thải tập trung. Nguồn thải từ các KCN mặc dù tập trung nhƣng thải lƣợng rất lớn, trong khi đó công tác quản lý cũng nhƣ xử lý chất thải KCN còn nhiều hạn chế. Các hệ thống xử lý nƣớc thải tập trung ở các KCN chỉ xử lý đƣợc khoảng 60% lƣợng nƣớc thải phát sinh.

Nƣớc thải từ các cơ sở sản xuất nằm ngoài KCN cũng xả ra môi trƣờng một lƣợng nƣớc thải khá lớn, gây nhiều sức ép lên môi trƣờng. Các doanh nghiệp lớn tuy chỉ chiếm số lƣợng nhỏ (ít hơn 2% tổng số doanh nghiệp cả nƣớc) nhƣng chiếm trên 30% tổng sản lƣợng công nghiệp toàn quốc. Các doanh nghiệp này nằm rải rác, phân tán trên các vùng miền của cả nƣớc với các lĩnh vực sản xuất chính là khai thác khoáng sản, sản xuất điện, khai thác và chế biến dầu khí, cơ khí, hóa chất, luyện kim, đóng tàu, sản xuất xi măng, chế biến thực phẩm. Một số cơ sở công nghiệp lớn hiện đang sản xuất với công nghệ chƣa tiên tiến, hiện đại, lại ít hoặc chƣa quan tâm đến đầu tƣ công trình xử lý môi trƣờng trong quá trình sản xuất nên đã gây ra sức ép rất lớn lên môi trƣờng, gây ô nhiễm môi trƣờng nghiêm trọng tại nhiều địa phƣơng.

Gần đây nhất là việc xả thải của Công ty Vedan trên sông Thị Vải, sự cố môi trƣờng dọc các tỉnh miền Trung do công ty thép Formosa Hà Tĩnh. Tình hình ô nhiễm các chất hữu cơ bền Ô nhiễm nguồn nƣớc bởi các hợp chất hữu cơ tổng hợp bền nhƣ thuốc trừ sâu, diệt cỏ, chất phụ gia trong hệ trao đổi nhiệt công nghiệp, trong sơn, các chất màu dệt nhuộm đang là mối quan tâm lớn trên toàn thế giới. Tại Việt Nam, vấn đề này cũng đang rất nóng do sử dụng bữa bãi hoặc không xử lý các loại thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật, các chất phụ gia trong công nghiệp, nƣớc thải các ngành công nghiệp trong đó nan giải nhất là ngành dệt nhuộm. Nhiều nghiên cứu đã đánh giá hàm lƣợng các hợp chất bền tại các làng nghề, trong mẫu đất và trầm tích sông.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ