Tổng quan nghiên cứu

Theo thống kê từ các tổ chức bảo tồn quốc tế, mỗi năm thế giới suy giảm khoảng 20 triệu ha rừng tự nhiên. Tại Việt Nam, độ che phủ rừng từng sút giảm nghiêm trọng từ mức 43% với 14,3 triệu ha năm 1943 xuống còn 27,8% tương đương 9,2 triệu ha vào năm 1995. Mặc dù tổng diện tích rừng sau đó đã được phục hồi lên trên 12 triệu ha, nhưng có tới hơn 60% diện tích rừng tự nhiên thuộc trạng thái rừng nghèo kiệt do lịch sử khai thác quá mức và canh tác nương rẫy kéo dài. Thực trạng này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc xây dựng cơ sở khoa học để phục hồi, làm giàu và quản lý bền vững hệ sinh thái rừng bản địa.

Tại Công ty Lâm nghiệp Mai Sơn thuộc huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang, diện tích rừng tự nhiên trạng thái IIIA1 chiếm tới 3.875,80 ha, tương đương 23,61% tổng diện tích đất tự nhiên toàn khu vực. Đây là đối tượng rừng thứ sinh nghèo bị suy thoái mạnh, cấu trúc tầng tán bị phá vỡ tạo thành nhiều khoảng trống xen kẽ thảm tươi và dây leo xâm lấn. Luận văn thạc sĩ khoa học lâm nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Kha tập trung giải quyết vấn đề thiếu hụt dữ liệu định lượng về quy luật tái sinh tự nhiên nhằm phục vụ công tác phục hồi rừng tại địa phương.

Nghiên cứu được triển khai thực nghiệm tại tiểu khu Nước Vàng, xã Lục Sơn trong khung thời gian từ tháng 11/2007 đến tháng 10/2009. Mục tiêu trọng tâm là xác định sự biến đổi của nhân tố ánh sáng, đánh giá cấu trúc tầng cây tái sinh dưới tán và trong các lỗ trống sinh thái, đồng thời so sánh quy luật phân bố không gian nhằm đề xuất các giải pháp kỹ thuật lâm sinh tối ưu. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn lớn, trực tiếp định hướng cho việc chuyển hóa và phục hồi 800 ha rừng thứ sinh nghèo kiệt theo quyết định quy hoạch của tỉnh Bắc Giang, hướng tới mục tiêu nâng cao trữ lượng gỗ và độ tàn che rừng đạt trên 0,7.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết diễn thế sinh thái rừng nhiệt đới của Thái Văn Trừng và học thuyết tái sinh rừng qua lỗ trống của các nhà lâm học kinh điển như Van Steenis và Baur. Theo lý thuyết diễn thế sinh thái, ánh sáng là nhân tố sinh thái chủ đạo điều khiển quá trình thay thế tổ thành loài cây từ nhóm tiên phong ưa sáng sang nhóm định cư chịu bóng. Khái niệm lỗ trống tán rừng được định nghĩa là khoảng không gian gián đoạn tầng tán có đường kính tối thiểu bằng chiều cao bình quân tầng cây cao và diện tích dao động từ 20 m2 đến dưới 1.000 m2.

Bên cạnh đó, đề tài tích hợp mô hình phân tích cấu trúc tổ thành dựa trên chỉ số giá trị quan trọng (IV%) của Daniel Maramillod và công thức phân tầng của Nguyễn Hữu Hiến. Khung phân tích xác lập 5 khái niệm cốt lõi: trạng thái rừng thứ sinh nghèo IIIA1, độ tàn che tán rừng, tái sinh phân tán liên tục, tái sinh lỗ trống và cây tái sinh có triển vọng. Khái niệm cây tái sinh triển vọng được lượng hóa cụ thể là những cá thể đạt chiều cao tối thiểu 1,5 m, có phẩm chất thân thẳng, không cụt ngọn và tán lá phát triển cân đối vượt lên trên tầng cây bụi thảm tươi.

Phương pháp nghiên cứu

Dữ liệu nghiên cứu được thu thập thực địa từ tháng 11/2007 đến tháng 10/2009 kết hợp kế thừa tài liệu khí tượng thủy văn của huyện Lục Nam với lượng mưa bình quân 1.475,60 mm/năm và độ ẩm trung bình 81,58%. Cỡ mẫu nghiên cứu tầng cây cao bao gồm 40 ô tiêu chuẩn tạm thời (OTC) diện tích 200 m2 (10m x 20m), phân bổ đều trên 4 cấp độ tàn che từ dưới 0,3 đến trên 0,7 với 10 ô cho mỗi cấp. Phương pháp chọn mẫu điển hình vạch tuyến được áp dụng nhằm phản ánh đầy đủ tính đại diện của trạng thái rừng IIIA1. Trong mỗi ô tiêu chuẩn, đề tài bố trí 5 ô dạng bản (ODB) diện tích 16 m2 (4m x 4m) với tổng số 200 ô dạng bản để điều tra chi tiết lớp cây tái sinh.

Đối với hệ thống lỗ trống, tác giả khảo sát 30 lỗ trống thực tế thuộc 3 cấp quy mô đường kính: cấp 1 (10-20 m), cấp 2 (20-30 m) và cấp 3 (30-36 m). Thiết bị KB-2 được sử dụng để đo độ tàn che thông qua 100 điểm chuẩn hóa trên mỗi ô tiêu chuẩn. Cường độ ánh sáng được ghi nhận bằng máy đo độ rọi tại 2 thời điểm trong ngày (12h-13h và 15h-16h) lặp lại 5 chu kỳ. Phương pháp phân tích thống kê sinh học trên phần mềm chuyên dụng và chỉ số tiêu chuẩn U của Clark - Evans được lựa chọn vì tính chuẩn xác cao trong việc kiểm định kiểu phân bố không gian (cụm, ngẫu nhiên hay cách đều) của cây tái sinh trên mặt đất rừng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cấu trúc tầng cây cao tại trạng thái IIIA1 thể hiện rõ đặc trưng nghèo kiệt với chiều cao vút ngọn bình quân chỉ đạt 10,63 m, mật độ tầng cây biến động mạnh từ 340 cây/ha ở cấp tàn che dưới 0,3 lên 700 cây/ha ở cấp tàn che trên 0,7, mật độ trung bình đạt 554 cây/ha. Trữ lượng tầng cây đứng rất thấp, trung bình chỉ đạt 38,023 m3/ha và tổng tiết diện ngang đạt 6,98 m2/ha. Các loài chiếm ưu thế sinh thái cao nhất bao gồm Dẻ ăn quả (chỉ số IV đạt 17,66%), Trám trắng (chỉ số IV đạt 23,09%) và Sau sau (chỉ số IV đạt 24,50%).

Thứ hai, mật độ cây tái sinh dưới tán đạt bình quân 3.089 cây/ha và có xu hướng giảm nghịch với độ tàn che, cụ thể từ 3.766 cây/ha ở cấp tàn che dưới 0,3 giảm 35,69% xuống còn 2.422 cây/ha ở cấp tàn che trên 0,7. Tỷ lệ cây tái sinh có triển vọng đạt mức cao, bình quân 70,25%. Mật độ cây tái sinh mục đích có triển vọng duy trì ổn định ở mức 648 cây/ha, trong đó tỷ lệ cây mục đích tăng mạnh từ 23,65% ở tán thưa lên 47,33% ở tán rậm.

Thứ ba, phân bố số lượng cây tái sinh theo cấp chiều cao tuân theo quy luật giảm hình chữ J ngược. Lớp cây mạ dưới 1 m chiếm tỷ lệ cao nhất từ 26,14% đến 32,74%, trong khi lớp cây cao trên 4 m chỉ chiếm từ 7,33% đến 12,95%. Chất lượng cây tái sinh ghi nhận 30,10% đến 46,00% cây phẩm chất tốt, 47,00% đến 50,90% cây trung bình và tỷ lệ cây xấu dao động từ 7,10% đến 22,40%.

Thứ tư, tại các lỗ trống quy mô cấp 2 (đường kính 20-30 m), cường độ ánh sáng đạt mức tối ưu kích thích mật độ tái sinh cây mục đích tăng hơn 25% so với dưới tán rừng khép kín, đồng thời thúc đẩy sinh trưởng chiều cao và đường kính gốc vượt trội.

Thảo luận kết quả

Sự biến động về mật độ và tổ thành cây tái sinh phản ánh rõ nét quy luật cạnh tranh ánh sáng và không gian dinh dưỡng. Ở cấp tán thưa với độ tàn che dưới 0,3, ánh sáng dồi dào tạo điều kiện cho các loài cây tiên phong ưa sáng như Sau sau và Mán đỉa chiếm ưu thế tổ thành với hệ số lên tới 2,05. Ngược lại, khi độ tàn che vượt 0,7, các loài cây gỗ bản địa có giá trị kinh tế cao và chịu bóng nhẹ như Lim xanh (hệ số tổ thành đạt 1,33) và Re hương bắt đầu xuất hiện và củng cố vị thế. Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu lâm học tại Vườn quốc gia Ba Vì và vùng Hương Sơn, khẳng định quy luật diễn thế tự nhiên từ cây ưa sáng ngắn ngày sang cây gỗ lớn trường thọ.

Toàn bộ dữ liệu thực nghiệm về mối quan hệ giữa hệ số tổ thành, mật độ cá thể và các cấp độ tàn che có thể được mô hình hóa trực quan qua biểu đồ phân tán đa trục hoặc bảng ma trận tương quan sinh thái. Việc trực quan hóa này giúp các nhà quản lý rừng dễ dàng nhận diện ngưỡng chuyển dịch sinh thái khi độ tàn che dao động quanh mức 0,5 đến 0,7. Về mặt không gian, chỉ số kiểm định U của Clark - Evans cho thấy cây tái sinh phân bố cụm ở rừng thưa và chuyển dần sang phân bố ngẫu nhiên dưới tán rừng có độ che phủ trên 60%. Điều này khẳng định lỗ trống sinh thái chính là những mắt xích tái lập năng lượng then chốt để phục hồi rừng thứ sinh nghèo.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, phân loại và khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên có hỗ trợ kỹ thuật trên toàn bộ 3.875,80 ha rừng trạng thái IIIA1. Công ty Lâm nghiệp Mai Sơn chủ trì thực hiện từ năm 2024 đến năm 2026, đặt mục tiêu nâng mật độ cây mục đích có triển vọng từ 648 cây/ha lên tối thiểu 900 cây/ha và nâng độ tàn che toàn lâm phần đạt mức 0,6 đến 0,7.

Thứ hai, thực hiện phát dọn dây leo, cây bụi xâm lấn và tỉa thưa định hình cho cây tái sinh triển vọng. Đội quản lý bảo vệ rừng phối hợp cùng các hộ nhận khoán triển khai định kỳ 2 lần/năm vào tháng 4 và tháng 9 hàng năm, tập trung mở rộng không gian dinh dưỡng cho các cụm cây Lim xanh, Trám trắng và Dẻ ăn quả có chiều cao trên 1,5 m, phấn đấu giảm tỷ lệ cây xấu xuống dưới 5%.

Thứ ba, điều tiết chế độ ánh sáng thông qua kỹ thuật tạo lỗ trống sinh thái nhân tạo và trồng dặm bổ sung. Phòng Kỹ thuật Lâm nghiệp tiến hành thiết lập các khoảng mở tán có đường kính từ 20 m đến 30 m tương đương cấp lỗ trống 2, thực hiện trồng dặm bổ sung từ 300 đến 400 cây/ha các loài cây bản địa có giá trị cao như Re hương và Nghiến trong giai đoạn 2024 - 2028.

Thứ tư, chuyển hóa và cải tạo 800 ha rừng nghèo kiệt kém hiệu quả sang mô hình rừng trồng gỗ lớn bản địa kết hợp cây đa mục đích. Ban Giám đốc Công ty Lâm nghiệp Mai Sơn phối hợp với cơ quan kiểm lâm địa phương hoàn thiện phương án giai đoạn 2024 - 2030, áp dụng mật độ trồng 1.100 đến 1.600 cây/ha nhằm gia tăng giá trị kinh tế và phòng hộ đầu nguồn sông Lục Nam.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là ban lãnh đạo và cán bộ kỹ thuật tại các công ty lâm nghiệp, ban quản lý rừng phòng hộ. Luận văn cung cấp tập số liệu thực nghiệm chuẩn xác trên 40 ô tiêu chuẩn giúp đơn vị tối ưu hóa phương án điều chế và phục hồi 3.875,80 ha rừng thứ sinh nghèo, tiết kiệm khoảng 20% đến 30% chi phí khoanh nuôi so với phương pháp truyền thống.

Nhóm thứ hai là các nhà khoa học, nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Lâm học, Quản lý tài nguyên rừng và Sinh thái học. Công trình cung cấp hệ phương pháp luận hoàn chỉnh về đo đạc lỗ trống tán rừng, phương pháp đánh giá 200 ô dạng bản và ứng dụng chỉ số kiểm định Clark - Evans trong phân tích phân bố không gian cây rừng.

Nhóm thứ ba là cơ quan quản lý nhà nước như Chi cục Kiểm lâm và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Báo cáo cung cấp cơ sở định lượng để hoạch định chính sách phân bổ vốn đầu tư các dự án bảo vệ rừng, đặc biệt là phê duyệt phương án cải tạo 800 ha rừng nghèo kiệt theo hướng phát triển bền vững.

Nhóm thứ tư là các tổ chức phi chính phủ và chuyên gia phát triển dự án tín chỉ carbon rừng. Dữ liệu về mật độ tái sinh 3.089 cây/ha và trữ lượng rừng 38,023 m3/ha là cơ sở tin cậy để tính toán tốc độ tăng trưởng sinh khối và tiềm năng hấp thụ CO2 của rừng phục hồi tại khu vực Đông Bắc Bộ.

Câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Trạng thái rừng IIIA1 tại Công ty Lâm nghiệp Mai Sơn có những đặc trưng cấu trúc nổi bật nào?
Trả lời: Rừng IIIA1 tại khu vực nghiên cứu có chiều cao bình quân chỉ đạt 10,63 m và trữ lượng thấp khoảng 38,023 m3/ha do lịch sử khai thác chọn kiệt quệ. Tầng tán bị phân cắt mạnh với mật độ trung bình 554 cây/ha, trong đó các loài cây gỗ tiên phong như Sau sau và Trám trắng chiếm ưu thế tổ thành.

Câu hỏi: Mật độ cây tái sinh dưới tán biến động như thế nào theo các cấp độ tàn che?
Trả lời: Mật độ cây tái sinh giảm dần khi độ tàn che tăng lên, cụ thể đạt cao nhất 3.766 cây/ha ở cấp tán thưa dưới 0,3 và giảm xuống 2.422 cây/ha khi tán khép trên 0,7. Mặc dù mật độ tổng số giảm, nhưng tỷ lệ cây tái sinh mục đích lại tăng mạnh từ 23,65% lên 47,33% dưới tán rừng khép tán.

Câu hỏi: Tại sao kích thước lỗ trống từ 20 m đến 30 m được đánh giá là tối ưu cho tái sinh rừng?
Trả lời: Lỗ trống cấp 2 với đường kính 20-30 m cung cấp cường độ ánh sáng khuếch tán lý tưởng, giúp tỷ lệ cây triển vọng đạt trên 70%. Quy mô này vừa hạn chế sự lấn át của dây leo cỏ dại, vừa kích thích sinh trưởng đường kính và chiều cao cho cây gỗ mục đích bản địa.

Câu hỏi: Cây tái sinh có triển vọng trong nghiên cứu được xác định theo những tiêu chí định lượng nào?
Trả lời: Cây tái sinh triển vọng phải đạt chiều cao tối thiểu 1,5 m vượt qua tầng cây bụi thảm tươi, thân tròn thẳng và phẩm chất từ trung bình đến tốt. Mật độ cây mục đích triển vọng trong vùng nghiên cứu đạt bình quân 648 cây/ha, bảo đảm nguồn giống thay thế tầng tán tương lai.

Câu hỏi: Phương pháp phân tích phân bố không gian của cây tái sinh đem lại ý nghĩa gì cho lâm sinh?
Trả lời: Sử dụng chỉ số U của Clark - Evans giúp xác định cây tái sinh phân bố cụm ở trạng thái tán thưa và chuyển sang phân bố ngẫu nhiên khi tán khép. Kết quả này định hướng cho việc điều tiết mật độ tỉa thưa và bố trí vị trí trồng dặm bổ sung chuẩn xác từng ô tiêu chuẩn.

Kết luận

  • Tổng kết toàn diện đặc điểm cấu trúc tầng cây cao với trữ lượng bình quân 38,023 m3/ha và mật độ tái sinh tự nhiên đạt 3.089 cây/ha tại trạng thái IIIA1.
  • Chứng minh quy luật biến đổi tổ thành và mật độ tái sinh theo 4 cấp độ tàn che, ghi nhận mật độ cây mục đích triển vọng đạt 648 cây/ha.
  • Xác định quy mô lỗ trống sinh thái tối ưu có đường kính từ 20 m đến 30 m để thúc đẩy quá trình phục hồi tự nhiên của các loài cây gỗ bản địa.
  • Đóng góp luận cứ khoa học vững chắc cho công tác quản lý, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh trên diện tích 3.875,80 ha và cải tạo 800 ha rừng nghèo kiệt tại Bắc Giang.
  • Đề xuất lộ trình kỹ thuật lâm sinh giai đoạn 2024 - 2028 với các giải pháp tỉa thưa, mở tán và trồng dặm bổ sung từ 300 đến 400 cây/ha.

Công trình luận văn là tài liệu tham khảo học thuật giá trị cao cho các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và kỹ sư lâm nghiệp trong sự nghiệp bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên rừng Việt Nam. Hãy liên hệ các cơ sở đào tạo lâm nghiệp hoặc thư viện chuyên ngành để tra cứu toàn văn tài liệu và ứng dụng ngay các phát hiện thực nghiệm vào thực tiễn quản lý rừng.