Chương 1. Cơ sở lý luận về phát triển năng lực tư vấn hướng nghiệp cho giáo viên trung học phổ thông dựa vào cộng đồng nghề nghiệp; - Chương 2. Thực trạng phát triển năng lực tư vấn hướng nghiệp cho giáo viên trung học phổ thông dựa vào cộng đồng nghề nghiệp; - Chương 3. Biện pháp phát triển năng lực tư vấn hướng nghiệp cho giáo viên trung học phổ thông dựa vào cộng đồng nghề nghiệp; - Chương 4.
Thực nghiệm sư phạm. 13 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TƢ VẤN HƢỚNG NGHIỆP CHO GIÁO VIÊN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG NGHỀ NGHIỆP 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về năng lực tư vấn hướng nghiệp của giáo viên trung học phổ thông 1.
Những nghiên cứu về năng lực Không thể phủ nhận rằng, năng lực có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển toàn diện của mỗi cá nhân. Do vậy, nó trở thành đối tượng nghiên cứu của rất nhiều ngành khoa học như: tâm lý học, giáo dục học, kinh tế học, lịch sử, văn hóa, pháp luật…Những năm gần đây, các công trình nghiên cứu về năng lực tập trung nhiều vào việc phân tích cấu trúc của năng lực hoặc khung năng lực nhằm giúp mỗi cá nhân thực hiện tốt những nhiệm vụ cụ thể trong thực tiễn cuộc sống. Cho đến nay, có rất nhiều nghiên cứu về năng lực ở các lĩnh vực khác nhau đã được công bố. Luận án chỉ khái quát một số nghiên cứu điển hình mang tính tổng quan về năng lực như sau: - Thứ nhất, nghiên cứu đại cương về năng lực: Các tác giả: Phạm Minh Hạc (Chủ biên, 1998), Phạm Hoàng Gia, Trần Trọng Thủy, Nguyễn Quang Uẩn đề cập đến vấn đề năng lực trong nghiên cứu về cấu trúc của nhân cách, theo đó, năng lực là một trong bốn thuộc tính tâm lý của nhân cách: xu hướng, tính cách, năng lực, khí chất.
Nghiên cứu này cho rằng năng lực của một con người là thuật ngữ dùng để mô tả và nói lên người đó có thể làm được việc gì, làm đến mức độ nào và việc làm đó đạt chất lượng ra sao. Các nhà nghiên cứu nói trên cũng thống nhất rằng, nhân cách gồm 2 mặt thống nhất là đức và tài hoặc năng lực và phẩm chất. Khi đó năng lực, “người ta còn gọi là khả năng hay tài” [37; tr 65]. 14 Trong các giáo trình Tâm lý học, các tác giả Trần Trọng Thủy (Chủ biên, 1999), Nguyễn Quang Uẩn, Lê Ngọc Lan cho rằng, năng lực là sự cố kết nhuần nhuyễn của nhiều thuộc tính tâm lý độc đáo của cá nhân.
Các tác giả mô tả sự cố kết này là tổ hợp, và tổ hợp này cho phép con người thực hiện thành công những dạng hoạt động nhất định trong những điều kiện cụ thể. Các tác giả cũng chia năng lực ra thành 3 mức độ khác nhau từ thấp đến cao là: năng lực, tài năng và thiên tài; đồng thời phân thành 2 loại là năng lực chung và năng lực chuyên biệt. Các tác giả Nguyễn Quang Uẩn (Chủ biên, 2008), Trần Hữu Luyến, Trần Quốc Thành cũng đồng nhất quan điểm với những nghiên cứu kể trên, ngoài ra, đi sâu phân tích, giải nghĩa về mối quan hệ giữa: năng lực và tư chất, năng lực và thiên hướng, năng lực với tri thức, kỹ năng và kỹ xảo. Các tác giả cũng cho rằng cần tiếp cận vấn đề phát triển năng lực theo cách tiếp cận nhân cách.
Việc hình thành và phát triển các phẩm chất nhân cách là phương tiện có hiệu quả nhất để phát triển năng lực. Tác giả Bùi Minh Đức (2013) đã tổng hợp các nghiên cứu và đưa ra phân tích nội hàm của thuật ngữ năng lực. Phân biệt về nghĩa và chỉ ra sự giống nhau, khác nhau giữa năng lực và các từ cùng trường như: tiềm năng, khả năng, tài năng, năng khiếu, kĩ năng. Tác giả cho rằng năng lực của cá nhân không chỉ là kiến thức và kĩ năng, mà còn bao gồm việc huy động các nguồn lực tâm lý khác (trong đó có thái độ) nhằm đáp ứng các yêu cầu phức tạp của việc thực hiện nhiệm vụ trong thực tiễn [32].
Mặc dù có những cách diễn đạt, lối hành văn khác nhau, nhưng những nghiên cứu của các tác giả kể trên đều thống nhất với nhau đó là, xem xét năng lực như là một trong những thuộc tính tâm lý của nhân cách. Năng lực luôn có sự tác động qua lại mật thiết, cố kết với các thuộc tính, các phẩm chất khác của nhân cách tạo nên sự sẵn sàng thực hiện thành công các nhiệm vụ trong thực tiễn. Các nghiên cứu cũng chỉ ra những cấp độ khác nhau của năng lực, đồng thời, chỉ ra những con đường để phát triển năng lực như thông qua các hoạt 15 động đào tạo - bồi dưỡng, tích lũy và vận dụng tri thức - kinh nghiệm, thông qua việc tổ chức hoạt động - giao lưu. Trong các con đường trên, các nhà nghiên cứu chú trọng con đường tự học - tự bồi dưỡng, tự thân vận động của mỗi cá nhân dưới sự tổ chức một cách khoa học, hợp lý các hoạt động giáo dục.
- Thứ hai, nghiên cứu về cấu trúc của năng lực : Tổ chức Lao động Thế giới cho rằng năng lực có cấu trúc bao gồm: kiến thức, kỹ năng, thái độ, và năng lực chính là sự vận dụng các kỹ năng, kiến thức và thái độ để thực hiện các nhiệm vụ theo tiêu chuẩn công nghiệp và thương mại dưới các điều kiện hiện hành [78]. Các tác giả: Benjamin Bloom, Nguyễn Minh Đường, Bernd Meier, Nguyễn Văn Cường và nhiều tác giả trong và ngoài nước, khi đưa ra quan niệm về năng lực đều nhắc đến 3 thành phần căn bản là: kiến thức, kỹ năng, thái độ. Đó là những thành tố cần thiết để người lao động có thể thực hiện được các nhiệm vụ cụ thể, đảm bảo các tiêu chuẩn cho trước ở những điều kiện nhất định. Coolahan (Ủy ban Châu Âu 1996, p.26) cho rằng: Năng lực là khả năng cơ bản của con người, có cấu trúc gồm “tri thức, kinh nghiệm, các giá trị và thiên hướng” [dẫn theo 60; tr 74].
Tác giả cũng cho rằng, con đường để phát triển năng lực là thông qua thực hành. Nhìn chung, các nghiên cứu kể trên đều khá thống nhất với nhau trong quan niệm về năng lực và cấu trúc của năng lực. Về quan niệm, các nhà khoa học đều thống nhất rằng, năng lực là tổ hợp các thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với những yêu cầu nhất định để thực hiện nhiệm vụ cụ thể trong thực tiễn. Về cấu trúc, năng lực được cấu thành bởi tri thức, kỹ năng, thái độ.
đảm bảo cho cá nhân thực hiện tốt nhiệm vụ cụ thể trong những điều kiện nhất định. Những nghiên cứu về tư vấn hướng nghiệp TVHN trong giáo dục là lĩnh vực được nghiên cứu khá phổ biến và được coi trọng ở nhiều nước trên thế giới. Ở một số quốc gia phát triển như Trung Quốc, Malaysia, Mỹ. học sinh THPT thường được giáo viên TVHN đồng hành 16 và hỗ trợ ngay từ những năm đầu cấp học.
Ở Việt Nam, TVHN được coi là một bộ phận của giáo dục hướng nghiệp, hoạt động TVHN được tích hợp trong hoạt động dạy học và các hoạt động giáo dục ở trường phổ thông. Có thể kể ra một số nghiên cứu điển hình ở nước ngoài, ở Việt Nam và một số văn bản định hướng về vấn đề này như sau: - Những nghiên cứu tiêu biểu ở nước ngoài: + Frank Parsons (1854 – 1908) được coi là người sáng lập ra ngành tư vấn nghề ở Mỹ. Ông được biết đến với tư cách là người tiên phong trong việc xây dựng cơ sở lý thuyết trong lĩnh vực tư vấn nghề như: nguyên tắc nghề tư vấn, quy trình tư vấn, kỹ năng của tư vấn viên. Theo Frank Parsons, tư vấn viên cần phải là người chuyên nghiệp, thân tình, tốt bụng …, phải biết khơi gợi các tiềm năng đã có ở người được tư vấn.
Ông cũng là người có công đầu trong việc đề xuất về công tác hướng dẫn, tư vấn nghề nghiệp trong trường học. Năm 1909, một năm sau khi Parsons qua đời, cuốn sách Choosing a Vocation (chọn nghề) được xuất bản và cuốn sách được coi là sự cống hiến lớn lao cho công tác TVHN. + Năm 1883, ở Mỹ nhà tâm lý học Ganton Ph. đã cho ra đời công trình nghiên cứu về năng lực nghề nghiệp, đã đề xuất sử dụng phương pháp trắc nghiệm với mục đích giúp học sinh chọn nghề [dẫn theo 31; tr 8].
+ Vào năm 1959, nhà tâm lí học người Mỹ là John Holland (1919-2008) công bố công trình nghiên cứu về lý thuyết chọn nghề nghiệp (lí thuyết Mật mã Holland). Theo Holland, trong chúng ta, ai cũng có thể được xếp vào 1 trong 6 kiểu tính cách và có 6 môi trường hoạt động tương ứng với 6 kiểu tính cách đó. Sáu môi trường đó là: (1) Nhóm kĩ thuật; (2) Nhóm nghiên cứu; (3) Nhóm nghệ thuật; (4) Nhóm xã hội; (5) Nhóm quản lí; (6) Nhóm nghiệp vụ. Ông cũng chỉ ra trong nghiên cứu của mình: “những người làm việc trong môi trường tương tự như tính cách của mình hầu hết sẽ thành công và hài lòng với công việc” [77; tr 24].
Nghiên cứu này được đánh giá là rất thực tế, có giá trị ứng dụng rộng rãi trong lĩnh vực TVHN. Bằng việc thiết kế và thực hiện các câu trắc nghiệm, tư 17 vấn viên có cơ sở để hỗ trợ, giúp đỡ cho thân chủ hiểu rõ về bản thân, từ đó có kế hoạch học tập và lựa chọn nghề nghiệp phù hợp. + Một số nhà khoa học theo “Mô hình lí thuyết cây nghề nghiệp” cho rằng: “Sở thích, khả năng, cá tính và giá trị nghề nghiệp là những yếu tố cơ bản, có ảnh hưởng mang tính quyết định đến sự thành đạt trong nghề nghiệp của mỗi người” [77; tr 27]. Vì vậy, bốn yếu tố trên là “gốc rễ của cây nghề nghiệp” điều này đồng nghĩa với việc, mỗi người trong chúng ta phải nhận thức rõ nét về bản thân trước trước khi lập kế hoạch học tập và ra quyết định chọn nghề.
+ Donald Super, nhà tâm lý học người Mĩ có công trình nghiên cứu và các bài viết về Lí thuyết phát triển nghề nghiệp theo các giai đoạn của cuộc đời. Ông cho rằng, cuộc đời có 5 giai đoạn là: Phát triển; Khám phá; Thiết lập; Duy trì; Giảm sút. Mỗi giai đoạn lại có những đặc điểm tương ứng. Phát triển nghề nghiệp là một cuộc hành trình không bao giờ kết thúc.
Cuộc hành trình này không có một đáp án đúng mãi mãi cho câu hỏi “tôi nên theo nghề gì?”.