Chương 1 TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Các quan điểm nghiên cứu chính - Quan điểm hệ thống: Các lĩnh vực tự nhiên cũng như kinh tế xã hội vốn là một thể thống nhất không thể tách rời. Công nghiệp nông thôn có vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, mỗi ngành, mỗi địa phương.
Hơn thế nữa, các địa bàn nghiên cứu cũng có mối quan hệ mật thiết với các vùng lãnh thổ chung quanh nó, thậm chí là không liền kề về mặt địa lý nhưng có các mối quan hệ về kinh tế, xã hội. Hay nói cách khác, vùng nghiên cứu vừa là một hệ thống kín nhưng lại là một hệ thống mở, chúng có mối quan hệ khăng khít với nhau trong quá trình trao đổi vật chất và năng lượng. Bởi vậy, khi nghiên cứu về lĩnh vực tài chính với phát triển công nghiệp nông thôn vùng ven đô Thành phố nhất thiết phải đặt đối tượng nghiên cứu trong một chỉnh thể thống nhất dựa trên quan điểm hệ thống. - Quan điểm tổng hợp: Để đánh giá được thực trạng tài chính cũng như định hướng các giải pháp nhằm phát triển công nghiệp nông thôn vùng ven đô thì cần có cái nhìn tổng quát từ nguyên nhân đến thực trạng và xu hướng phát triển của vấn đề.
Muốn vậy, người nghiên cứu phải nắm bắt được những thông tin về tất cả các khía cạnh có liên quan đến lĩnh vực tài chính, bao gồm các công cụ tài chính cũng như yếu tố tự nhiên, kinh tế xã hội trong vùng ven đô, bởi lẽ nó có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau và cùng ảnh hưởng tới thực trạng cũng như yếu tố phát triển công nghiệp nông thôn. Do đó, việc phân tích, đánh giá tổng hợp đối với vấn đề là hết sức cần thiết. - Quan điểm tiếp cận địa lý: Việc đánh giá thực trạng tài chính với phát triển công nghiệp nông thôn vùng ven đô cần chú ý tới tính chất và mức độ theo các thời kỳ khác nhau. Hơn nữa, lĩnh vực tài chính với phát triển công nghiệp 6 nông thôn cũng có sự khác biệt theo từng thời kỳ do đặc thù của cơ chế, chính sách, thị trường… Mặt khác, trong quá trình nghiên cứu cũng cần có những thông tin phải truy hồi quá khứ hay dự báo tương lai.
Do vậy, khi nghiên cứu cần chú ý tới tính chất địa lý của đối tượng theo thời gian và theo không gian để có những đánh giá và dự báo đúng đắn. - Quan điểm phát triển bền vững: Quá trình phát triển công nghiệp nông thôn nói riêng và quá trình CNH, HĐH, phát triển kinh tế - xã hội nói chung của Việt Nam cũng như các nước khác trên thế giới hiện nay đang đứng trước thách thức lớn về lĩnh vực tài chính, vấn đề môi trường sinh thái, nếu không giải quyết kịp thời vấn đề này thì sẽ không thể hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Cần cân đối giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế với việc sử dụng các nguồn lực tài chính. Cụ thể là việc sử dụng công cụ tài chính, tài nguyên phải nằm trong phạm vi chịu tải của chúng để chúng có thể khôi phục về số lượng và chất lượng theo quy luật của tự nhiên.
Nếu vượt quá “ngưỡng” cho phép thì khả năng huy động nguồn lực, tự làm sạch, tự phục hồi sẽ không còn nữa, sẽ dẫn đến sự mất cân đối nguồn lực, mất cân bằng hệ sinh thái, tạo điều kiện thúc đẩy sự huỷ hoại nguồn lực, môi sinh của cộng đồng. Do đó, khi nghiên cứu, đánh giá tác động của công cụ tài chính và môi trường hay quy hoạch bảo vệ môi trường và quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế, xã hội, nhất thiết phải gắn với mục tiêu vì sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững, tuy nhiên có đặt trong điều kiện cụ thể của mỗi vùng, mỗi ngành, đặc biệt là vấn đề tài chính trong phát triển công nghiệp nông thôn vùng ven đô mà có những tiêu chí phù hợp. Đối với các cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề Hà Nội hiện nay, vấn đề phát triển bền vững cần có sự kết hợp hài hoà giữa lợi ích kinh tế với lợi ích sinh thái; hài hoà giữa mục tiêu kinh tế và mục tiêu văn hoá - xã hội. Các phương pháp nghiên cứu chính - Phương pháp thu thập, phân tích, tổng hợp tài liệu: Đây là một trong những phương pháp tiền đề, cơ bản đối với bất cứ nghiên cứu nào.
Các tài liệu cần thu thập gồm các đề tài nghiên cứu và các thông tin liên quan tới địa bàn 7 nghiên cứu. Việc thu thập đầy đủ các số liệu không chỉ là cơ sở cho việc tiến hành nghiên cứu được thuận lợi mà còn giúp người nghiên cứu định hướng rõ ràng những nội dung cần làm rõ về đề tài. Công việc này được tiến hành trong giai đoạn đầu tiên của luận án và có thể được bổ sung trong suốt quá trình nghiên cứu. - Phương pháp phân tích hệ thống: Đây là phương pháp chung cho nhiều ngành khoa học.
Mỗi hệ thống tự nhiên và kinh tế xã hội đều bao gồm nhiều bộ phận cấu thành, chúng có mối liên hệ ràng buộc và tác động qua lại lẫn nhau. Nghiên cứu sinh đã sử dụng phương pháp này để phân tích các mối quan hệ giữa các hoạt động kinh tế xã hội với tài chính phát triển công nghiệp nông thôn vùng ven đô thành phố Hà Nội. - Phương pháp thực địa: Phương pháp này được sử dụng phổ biến trong hầu hết các nghiên cứu khoa học, vì nó giúp thị sát tình hình thực tế, có cái nhìn khách quan khi tiến hành nghiên cứu. Đồng thời bổ sung được những nội dung, những thông tin mà các nghiên cứu trên tài liệu có thể chưa phản ánh được hết.
Ngay cả sau khi đưa ra kết quả vẫn cần đến khâu thực địa, khảo sát thực tế để kiểm chứng những kết quả đó. Nghiên cứu sinh đã tiến hành khảo sát một số Huyện vùng ven đô thành phố nhằm thu thập các thông tin, lấy mẫu phân tích và phỏng vấn các hộ sản xuất kinh doanh về đầu tư cho phát triển công nghiệp nông thôn. - Phương pháp phỏng vấn nhanh: Phương pháp này giúp thu thập, cập nhật thêm những thông tin chưa có tài liệu thống kê, hoặc muốn lấy ý kiến từ cộng đồng hoặc các đối tượng có liên quan. Nghiên cứu sinh đã sử dụng phương pháp này để thu thập các thông tin liên quan đến công nghiệp nông thôn, làng nghề truyền thống vùng ven đô thành phố Hà Nội.
Sau khi phỏng vấn cần tiến hành phân tích, so sánh, tổng hợp các thông tin đã thu được. - Phương pháp bản đồ, biểu đồ: Việc mô hình hoá các dữ liệu bằng các biểu đồ, sơ đồ giúp các nội dung trình bày mang tính trực quan hơn, thể hiện rõ hơn mối liên hệ giữa các yếu tố được trình bày. Phương pháp bản đồ được sử 8 dụng để thể hiện một số nội dung về mặt không gian như sự phân bố quy hoạch, số liệu kinh phí đầu tư phát triển đối với lĩnh vực công nghiệp nông thôn vùng ven đô Thành phố Hà Nội. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.
Trên thế giới Trên thế giới, từ những năm đầu của thế kỷ XX có một số công trình nghiên cứu có liên quan đến Công nghiệp nông thôn như: “Nhà máy làng xã” của Bành Tử (1922); “Mô hình sản xuất làng xã” và “Xã hội hoá làng thủ công” của N. Năm 1964, Tổ chức WCCI (World crafts council International - Hội đồng Quốc tế về nghề thủ công thế giới) được thành lập, hoạt động phi lợi nhuận vì lợi ích chung của các quốc gia có nghề thủ công truyền thống, Ngô Trà Mai (2008). Đối với các nước châu Á, sự phát triển công nghiệp nông thôn là giải pháp tích cực cho các vấn đề kinh tế xã hội ở nông thôn. Thực tế nhiều quốc gia trong khu vực có những kinh nghiệm hiệu quả trong phát triển công nghiệp nông thôn, điển hình là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Thái Lan; hay Nhật Bản với sự thành lập “Hiệp hội khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống” là hạt nhân cho sự nghiệp khôi phục và phát triển ngành nghề có tính truyền thống dựa theo “Luật nghề truyền thống” của Trần Minh Yến (2003).
Có thể nói, công nghiệp nông thôn có quan hệ mật thiết với sự phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn. Hiện nay ở nhiều nước, nhất là các nước đang phát triển, công nghiệp nông thôn được coi là vấn đề tất yếu có ý nghĩa chiến lược lâu dài. Việc nghiên cứu và phát triển công nghiệp nông thôn đã được đặt ra từ lâu và phát triển mạnh về cả về lý luận và thực tiễn. Trên thế giới, đã có nhiều công trình nghiên cứu về công nghiệp nông thôn được thực hiện để phổ biến kiến thức, kinh nghiệm và hướng dẫn thực hành cho cộng đồng và những người quan tâm.
Dưới đây là một số bài viết, công trình nghiên cứu đáng được quan tâm: 9 - Perspectives of rural industrialisation in Vietnam, proposal options from East and China experiences (Triển vọng của Công nghiệp hóa nông thôn ở Việt Nam, những gợi ý từ kinh nghiệm của Đông Á và Trung Quốc) của GS. Nội dung của công trình đưa ra 2 mô hình chính là W.Lewis và TVEs. Đặc điểm của mô hình Lewis là chuyển dịch lao động và lương thực thừa từ khu vực nông thôn sang khu vực công nghiệp. Đồng thời đưa ra một số kết luận ban đầu từ kinh nghiệm công nghiệp hóa của Nhật Bản và các nước Đông Á như: Phát triển nông nghiệp ở vùng châu Á gió mùa, bắt đầu từ đầu tư cơ bản về thủy lợi, là điều kiện đầu tiên để công nghiệp hóa thành công.
Đối với phát triển nông nghiệp, các mối quan hệ cộng đồng nông thôn đóng vai trò đặc biệt quan trọng của mỗi quốc gia. - Potentialities of rural industrialization in Vietnam: Lessons from china’s experience (Tiềm năng công nghiệp hóa nông thôn ở Việt Nam, bài học rút ra từ Trung Quốc) của Michiki Kikuchi - Đại học tổng hợp Hosei. Phát triển công nghiệp nông thôn nhờ phát triển doanh nghiệp hương trấn (TVEs) ở Trung Quốc được tiến hành rất linh động tùy thuộc vào thời gian, không gian và cái nhân tố tác động. Các TVEs cũng hình thành và phát triển trong các lĩnh vực kinh doanh mà doanh nghiệp Nhà nước chiếm ưu thế.
Phong trào mỗi làng một nghề nên được đầy mạnh đặc biệt đối với ngành nghề truyền thống.