Chương 1 đã giới thiệu tổng quan về luận văn. Chương 2 tiếp theo, có mục đích giới thiệu tổng quan về mobile banking, lý thuyết cùng với các nghiên cứu trước đây về mobile banking và từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu. TỔNG QUAN DỊCH VỤ MOBILE BANKING 2. Khái niệm ngân hàng điện tử: Dịch vụ NHĐT được giải thích như là khả năng của một khách hàng có thể truy cập từ xa vào một Ngân hàng nhằm: thu thập thông tin, thực hiện các giao dịch thanh toán, tài chính dựa trên các khoản lưu ký tại Ngân hàng đó, đăng ký sử dụng dịch vụ mới (Trương Đức Bảo, 2003).
Một số loại hình dịch vụ ngân hàng điện tử: Theo Trần Hoàng Ngân & Ngô Minh Hải (2004), có một số loại hình dịch vụ ngân hàng điện tử như sau: a) Trung tâm dịch vụ khách hàng (call centre): Nhờ quản lý dữ liệu tập trung nên khách hàng có tài khoản tại bất kỳ chi nhánh nào có thể gọi về một số cố định của trung tâm để được cung cấp mọi thông tin chung và thông tin cá nhân hoặc trả lời thắc mắc của khách hàng. b) Dịch vụ ngân hàng qua điện thoại (phone banking): Đây là dịch vụ mà khách hàng có thể dùng điện thoại di động hay cố định gọi đến số điện thoại của tổng đài bất kỳ lúc nào để được giới thiệu thông tin, hướng dẫn sử dụng dịch vụ ngân hàng, cung cấp thông tin tài khoản và bảng kê các giao dịch, báo nợ, báo có, … Dịch vụ này được tổ chức dưới hình thức hệ thống tự động trả lời, hoạt động 24/24, khách hàng chỉ cần nhấn vào các phím trên bàn phím, điện thoại theo mã do ngân hàng quy định để yêu cầu hệ thống trả lời thông tin cần thiết. c) Dịch vụ ngân hàng tại nhà (home banking): Khách hàng giao dịch với ngân hàng qua mạng nhưng là mạng nội bộ (intranet) do ngân hàng xây dựng riêng để chuyển tiền, liệt kê giao dịch, tỷ giá, lãi suất, báo Nợ, báo Có. Khách hàng cần có máy tính (tại nhà hoặc trụ sở) kết nối với hệ thống máy tính của Ngân hàng thông qua modem – đường điện thoại quay số, đồng thời khách hàng phải đăng ký số điện thoại và chỉ những số điện thoại này mới được kết nối với hệ thống Home banking của Ngân hàng.
6 d) Kiosk Ngân hàng: Trên đường phố hoặc tại một địa điểm thuận tiện sẽ đặt các trạm làm việc với đường kết nối internet tốc độ cao. Khi khách hàng cần thực hiện giao dịch hoặc yêu cầu dịch vụ, họ chỉ cần truy cập, cung cấp số chứng nhận cá nhân và mật khẩu để sử dụng dịch vụ của hệ thống Ngân hàng phục vụ mình. e) Dịch vụ ngân hàng qua internet (internet banking): Dịch này giúp khách hàng chuyển tiền, thanh toán trên mạng internet thông qua các tài khoản cũng như kiểm soát hoạt động của các tài khoản này. f) Dịch vụ ngân hàng qua điện thoại di động (mobile banking): Mobile banking là việc sử dụng thiết bị di động như điện thoại di động hay phương tiện kỹ thuật số cá nhân để truy cập hệ thống ngân hàng thông qua các giao thức ứng dụng không dây.
Thông qua mobile banking, người sử dụng có thể truy cập dịch vụ ngân hàng như quản lý tài khoản, vấn tin, chuyển tiền và thanh toán hóa đơn… (Luarn & Lin, 2005). Dịch vụ mobile banking Khi mới ra đời, mobile banking dựa trên nền tảng dịch vụ SMS (Short Message Service) cho phép khách hàng giao tiếp với ngân hàng theo những tin nhắn/câu lệnh có cú pháp dạng text được ngân hàng quy định trước.Vì thế, các giao dịch ngân hàng chỉ tạm dừng lại ở các giao dịch phi tài chính như truy vấn thông tin tài khoản, xem lịch sử giao dịch, tra cứu thông tin tỷ giá. Cùng với sự phát triển vũ bão của internet, công nghệ di động (GPRS, wifi, 3G, 4G…) và đặc biệt là sự phát triển của ngành công nghiệp điện thoại di động, mobile banking đã có những bước nhảy vọt, gắn liền với sự ra đời của điện thoại thông minh. Nhờ đó, với mobile banking, dịch vụ của NH trở nên tiện ích, hấp dẫn hơn, khách hàng có thể thực hiện giao dịch một cách thuận tiện, mọi lúc và mọi nơi họ muốn.
Các dịch vụ cung cấp qua mobile banking thường bao gồm: vấn tin, chuyển khoản, thanh toán số dư thẻ tín dụng, thanh toán hóa đơn điện, nước, truyền hình cáp …, nạp tiền thẻ điện thoại, thẻ game, các dịch vụ thông báo số dư, khuyến mại, nhắc nhở …., các dịch vụ khác… Các công nghệ ứng dụng phổ biến cho mobile banking Hiện nay, nổi trội bởi tính tiện lợi, bảo mật, an toàn, đa dạng tính năng, dễ cập nhật, dễ triển khai, thân thiện với người dùng, mobile application, mobile web là những lựa chọn hàng đầu của hầu hết các ngân hàng trên thế giới và trong 7 nước. Tuy nhiên, khi được so sánh với nhau, mỗi ứng dụng có những điểm vượt trội và điểm hạn chế nhất định (Xem mục 3, phụ lục 4). Theo số liệu của International Data Corporation (IDC, 2015), thị trường điện thoại thông minh toàn cầu quý 4/2014 đã tăng trưởng 28,2% so với đầu năm, thiết lập kỉ lục mới với trên 377 triệu điện thoại bán ra trong quý. Các chuyên gia kinh tế cho rằng sự tăng trưởng nóng về điện thoại thông minh đã tạo ra một mảnh đất màu mỡ và tiềm năng để các ngân hàng phát triển dịch vụ mobile banking.
Theo nghiên cứu của Juniper Research (2014). Dịch vụ mobile banking tại các nước mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ và Bangladesh cũng đã chứng kiến sự tăng trưởng đáng kể trong 12 tháng qua. Dự báo số lượng người sử dụng mobile banking toàn cầu sẽ đạt đến 1,75 tỷ vào năm 2017, so với 800 triệu hiện nay, chiếm 32% dân số trong độ tuổi trưởng thành toàn cầu. Nguyên do chính của sự tăng trưởng là tỷ lệ người sử dụng ngày càng tăng khi giá cả điện thoại thông minh ngày càng rẻ và phương thức thanh toán qua điện thoại di động bắt đầu phổ biến.
Các ngân hàng trên thế giới hiện nay coi các kênh dịch vụ qua điện thoại di động như là dòng doanh thu tất yếu, là chiến lược giữ chân khách hàng quan trọng và là một thách thức lớn cho các tổ chức coi trọng hoạt động theo phương thức truyền thống. Quy mô của thách thức này đã được khẳng định bởi số lượt ghé thăm chi nhánh ngân hàng của người tiêu dùng sụt giảm và việc đóng cửa các chi nhánh ngân hàng vật lý trong 12-24 tháng qua. Ví dụ, vào tháng Tư năm 2014, RBS Anh tuyên bố đóng cửa 44 chi nhánh trên khắp nước Anh (Juniper Research,2014). Sự phát triển của dịch vụ mobile banking tại Việt Nam Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt đang được Chính phủ Việt Nam ủng hộ mạnh mẽ.
Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đã ký Quyết định số 2453/QĐ-TTG phê duyệt các dự án để thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt giai đoạn 2012- 2015, trong đó, thanh toán điện tử là một nhiệm vụ quan trọng của dự án nhằm giảm mức độ sử dụng tiền mặt và tạo thói quen không dùng tiền mặt trong đại đa số dân cư. Về hạ tầng công nghệ thông tin, từ năm 2010 đến nay Việt Nam luôn nằm trong top 20 quốc gia có tỷ lệ người dùng internet cao nhất của thế giới. Tỷ lệ người sử dụng mạng máy tính và điện thoại thông minh lần lượt là 37% (Bộ Thông Tin và Truyền Thông, 2014) và 36% (TNS/Google, 2014), Đồng thời, theo xu thế chung, giá cả điện thoại thông minh và các thiết bị điện tử cá nhân trong nước hiện cũng rẻ hơn rất nhiều so với trước đây. Những bằng chứng trên cho thấy xu 8 hướng không dùng tiền mặt đang ngày càng phổ biến và Việt Nam là một thị trường rất tiềm năng của dịch vụ thanh toán điện tử nói chung và đặc biệt là mobile banking nói riêng.
Ra đời năm 2010, sau internet banking khoảng 6 năm, mobile banking được xem là hướng đi mới được nhiều ngân hàng tại Việt Nam lựa chọn trong chiến lược đẩy mạnh dịch vụ ngân hàng hiện đại. Tính đến 30/06/2014, mobile banking đang được 32/47 ngân hàng triển khai tại Việt Nam (so với 19 ngân hàng năm 2012) với 2,5 triệu khách hàng đang sử dụng dịch vụ. (Smartlink, 2014), 14-15 triệu giao dịch được thực hiện hàng tháng, tổng giá trị lên đến hàng nghìn tỷ đồng mỗi tháng. Tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm của mobile banking xấp xỉ 20-30%.
Tuy hoạt động mobile banking trong nước khá sôi động, tỷ lệ tăng trưởng người dùng mobile banking tại Việt Nam như trên còn chưa tương xứng với tăng trưởng người dùng điện thoại thông minh. Theo kết quả khảo sát hằng quý về thị trường điện thoại châu Á/Thái Bình Dương của IDC, tại Việt Nam năm 2014, điện thoại thông minh có mức tăng trưởng 11,6 triệu chiếc, đạt tốc độ tăng trưởng 57% so với 2013 (IDC, 2015). Theo Chủ tịch HĐQT Sacombank - ông Phạm Hữu Phú, trong thực tế đời sống vẫn tồn tại nhiều rào cản trong quá trình phổ biến thói quen sử dụng ngân hàng điện tử. Người dân còn quen dùng tiền mặt, cộng thêm tâm lý e ngại khi giao dịch không có giấy tờ ký nhận, lo ngại thao tác sai.
Song song đó, chất lượng hạ tầng về viễn thông chưa đồng đều, đặc biệt là những lo ngại về rủi ro an ninh mạng điện tử, về tội phạm công nghệ cao, virut cũng là yếu tố gây khó khăn cho việc phát triển ngân hàng điện tử (Vnexpress, 2014). Nhiều dự báo cho thấy trong vài năm tới, hầu hết các ngân hàng sẽ cung cấp dịch vụ mobile banking tới khách hàng và độ phủ dịch vụ này tại Việt Nam sẽ đạt khoảng 20% dân số Việt Nam. Vì thế, cạnh tranh trong cung cấp dịch vụ này cũng ngày càng khắc nghiệt với sự tham gia của các tổ chức tài chính nước ngoài, thậm chí của các tổ chức không phải ngân hàng như các công ty thương mại điện tử, trung gian thanh toán, ví điện tử hay các nhà mạng (Ngân Hàng Nhà Nước, 2014). Do vậy, các ngân hàng cần hiểu được nhu cầu khách hàng và sẵn sàng cho những đổi mới công nghệ, chất lượng dịch vụ để giành được vị thế cao.
Tổng quan về NHTM CP Sài Gòn Thương Tín và dịch vụ mobile banking của Ngân hàng Trong những năm đầu mới thành lập từ năm 1991, Sacombank là một tổ chức tín dụng nhỏ với vốn điều lệ khoảng 3 tỷ đồng và là một trong những ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên được thành lập tại Thành phố Hồ Chí Minh (TP. Trong giai đoạn 2000-2006, khi thị trường chứng khoán Việt Nam có những bước phát triển mạnh mẽ, Sacombank đã bùng nổ phát triển về vốn và các chi nhánh.