ĐẶT VẤN ĐỀ Cuộc sống hiện nay có nhiều yếu tố bất lợi đối với sức khỏe của con người khiến con người đối mặt với nhiều căn bệnh nguy hiểm. 90% nguyên nhân của bệnh tật hay lão hóa sớm đều trực tiếp hay gián tiếp do các gốc tự do. Các gốc tự do tích lũy nhiều trong cơ thể tấn công các mô, nội tạng và gây ra bệnh tật. Các bệnh chứng do tác động của các chất oxy hóa ngày càng nhiều: tiểu đường, xơ vữa động mạch, đục nhân mắt, cao huyết áp, ung thư,… Chất chống oxy hóa có khả năng ngăn chặn những tổn hại của quá trình oxy hóa gây ra bởi các gốc tự do nên có thể ngăn chặn sự xuất hiện của bệnh tật, và làm chậm quá trình lão hóa.
Vì thế trong thời gian gần đây, chất chống oxy hóa có nguồn gốc tự nhiên ngày càng thu hút nhiều sự quan tâm [13]. Song song đó, lo âu và căng thẳng cũng là vấn đề của xã hội hiện đại ảnh hưởng đến một phần tám dân số thế giới [40]. Một số thuốc an thần (nhóm benzodiazepin: diazepam, lorazepam,…) được sử dụng để giảm kích thích thần kinh, giảm cảm giác lo [40]. Tuy nhiên, bên cạnh những đặc tính có lợi của chúng, liệu pháp an thần và giải lo âu này có thể có những tác dụng phụ.
Các phương pháp điều trị mới hơn, hiệu quả hơn và được dung nạp tốt hơn là cần thiết để điều trị chứng lo âu và căng thẳng. Liệu pháp tâm lý kết hợp với các bài thuốc từ dược liệu đang rất được quan tâm [10]. Cây Chùm ngây có tên khoa học Moringa oleifera Lam., có nguồn gốc bản địa từ Đông Bắc Ấn Độ. Ngoài trồng làm hàng rào, làm thức ăn cho gia súc thì các bộ phận của cây cũng có tác dụng dược lý và công dụng.
Lá và thân có chứa protein, beta-caroten, vitamin C, sắt,…là nguồn cung cấp dinh dưỡng cho người dân ở các quốc gia nghèo; hoa, rễ và hạt Chùm ngây còn có beta-sitosterol, kaempferol và quercetin là các chất có hoạt tính chống oxy hoá ngăn chặn các tác động có hại của các gốc tự do. Hiện nay, lá Chùm ngây đã được nghiên cứu rộng rãi về thành phần hoá học cũng như tác dụng sinh học, nhưng cành cây Chùm ngây lại không được nghiên cứu nhiều cả trên thế giới và ở Việt Nam [4], [18]. Nhằm tìm ra một dược liệu có nhiều trong tự nhiên vừa có tác dụng chống oxy hoá, vừa có tác dụng an thần giải lo âu, tôi tiến hành đề tài: “Khảo sát tác dụng chống oxy hóa và tác dụng an thần giải lo âu của cao chiết từ cành cây Chùm ngây Moringa oleifera Lam.” với các mục tiêu sau: Mục tiêu tổng quát: Khảo sát tác dụng chống oxy hóa và tác dụng an thần giải lo âu của cao chiết từ cành cây Chùm ngây M. 2 Mục tiêu cụ thể: 1.
Kiểm tra nguyên liệu 2. Thử hoạt tính chống oxy hóa bằng: - Phương pháp bắt gốc tự do DPPH - Phương pháp xác định năng lực khử 4. Thử độc tính cấp của cao trên chuột nhắt trắng 5. Thử nghiệm an thần giải lo âu bằng mô hình hai ngăn sáng tối 3 CHƢƠNG 2.
TỔNG QUAN VỀ CHI CHÙM NGÂY (MORINGA) Chi Chùm ngây (Moringa) là một trong các chi thuộc họ Moringaceae. Chi Chùm ngây bao gồm 13 loài phân bố chủ yếu ở Tây Nam Á, Tây Nam Phi, Đông Bắc Phi và Madagascar [42]. Các loài và sự phân bố của chúng được liệt kê ở Bảng 2. Danh sách các loài Moringa trên khắp thế giới [42] Loài Vùng phân bố chính M.
arborea Verdcourt Kenya, Somalia M. borziana Mattei Kenya, Somalia M. concanensis Nimmo Ấn Độ M. drouhardii Jumelle Nam Madagascar M.
hildebrandtii Engler Tây Nam Madagascar M. longituba Engler Kenya, Đông Nam Ethiopia, Somalia M. ovalifolia Dinter ex Berger Namibia, Tây Nam Angola M. ex Fiori Biển Đỏ, Ả Rập, Đông Bắc Phi M.
pygmaea Verdcourt Bắc Somalia M. rivae Chiovenda Kenya, Ethiopia M. ruspoliana Engler Kenya, Ethiopia, Somalia M.) Cufodontis Kenya, Tây Nam Ethiopia, Somalia M. là loài duy nhất có ở Việt Nam [6].
TỔNG QUAN VỀ CÂY CHÙM NGÂY 2. Danh pháp Tên Việt Nam: cây Chùm ngây, cây Cải ngựa, cây Kỳ diệu, cây Độ sinh [6]. Tên tiếng Anh: Drumstick tree, Horseradish tree [23]. Tên khoa học: Moringa oleifera Lam.
Vị trí trong hệ thống phân loại Theo hệ thống phân loại thực vật APG III 2009 của Angiosperm Phylogeny Group [6], cây Chùm ngây có vị trí: Siêu ngành thực vật có hạt (Spermatophyta) Ngành thực vật hạt kín (Magnoliophyta) Lớp thực vật hai lá mầm thực sự (Eudicots) Phân lớp hoa hồng (Rosids) Bộ cải (Brassicales) Họ Chùm ngây (Moringaceae) Chi Chùm ngây (Moringa) Loài Chùm ngây (Moringa oleifera Lam. Vị trí phân loại loài M. Đặc điểm hình thái, phân bố 2. Mô tả Cây thân mộc cao trung bình (8-10 m), ở độ tuổi trưởng thành cây có thể mọc cao hàng chục mét.
Thân có đường kính khoảng 10 cm, có tiết diện tròn, thân non màu xanh có lông, thân già màu trắng xám, dày mềm, sần sùi nứt nẻ, có nốt sần, gỗ mềm và nhẹ. Cây Chùm ngây thuộc loài mọc nhanh, phát triển nhanh chóng ở những vùng có điều kiện thuận lợi, có thể tăng trưởng chiều cao từ 1-2 m/năm trong vòng 3-4 năm đầu. Tuy nhiên, cây trồng từ hạt có thể đạt chiều cao trung bình 4,1 m trong năm đầu tiên. Cây bắt đầu cho quả sau khi trồng 6-8 tháng [6].
Rễ cái có dạng củ, có mùi hăng cay và một hệ thống rễ bên thưa đâm sâu và lan rộng [6]. 5 Lá kép lông chim 3 lần, mọc cách, có từ 5-7 cặp lá phụ bậc 1, 4-6 cặp lá phụ bậc 2, 6-9 cặp lá phụ bậc 3. Phiến lá chét hình bầu dục dài 1,5-2,0 cm, rộng 2,0-2,5 cm, mặt trên xanh hơn mặt dưới, lá non kích thước lớn hơn lá già. Gân lá hình lông chim, cuống lá dài 18-25 cm.
Lá chét mọc đối, gai nhỏ có lông ở chỗ phân nhánh lá kép lông chim [6]. Cụm hoa dạng chùm sim, mọc ở nách lá hay ngọn cành. Hoa không đều lưỡng tính, màu trắng hơi vàng, mùi thơm, cuống hoa dài 1-2 cm. Trục phát hoa màu xanh, có lông, dài 10- 15 cm.
Lá bắc hình vảy nhỏ, có lông. Lá đài hoa 5, rời, đều, hơi cong hình lòng muỗng, màu trắng, dài 1 cm, rộng 0,4 cm, tiền khai 5 điểm. Cánh hoa 5, rời, không đều, cánh hoa dạng thìa, màu trắng hơi vàng, mặt trong ở dưới cánh hoa có nhiều lông, tiền khai năm điểm. Nhị 5, rời mang bao phấn xen kẽ với 5 nhị bất thụ tạo thành 2 vòng, nhị mang bao phấn nằm ngoài, dài hơn nhị bất thụ và đối diện với cánh hoa, nhị bất thụ nằm xen kẽ cánh hoa.
Chỉ nhị có kích thước to ở dưới, màu vàng, dài 0,6-1 cm, có lông. Bao phấn 2 ô, hình bầu dục, màu vàng và hướng trong. Bộ nhụy: 3 lá noãn dính, tạo thành bầu trên 1 ô, mang nhiều noãn, đính noãn bên, có lông. Vòi nhụy màu xanh, dài 1,89 cm, có nhiều lông.
Đầu nhụy hình trụ, màu vàng và có lông [6]. Quả dạng nang treo to, dài 20-50 cm, rộng 2,0-2,5 cm, có nhiều rãnh dọc, hơi gồ lên chỗ có hạt, quả khô màu vàng xám và khi quả khô mở thành 3 mảnh dày. Bộ phận dùng Tất cả các bộ phận của cây đều được sử dụng với các mục đích khác nhau. Các bộ phận của cây chứa nhiều khoáng chất quan trọng, giàu chất đạm, vitamin, beta- caroten, axit amin và nhiều hợp chất phenol.
Tuy nhiên, thành phần và hàm lượng ở mỗi bộ phận là khác nhau [6], [42]. Phân bố Cây có xuất xứ từ vùng Nam Á, dưới chân dãy Himalaya, trải dài từ Đông Bắc Pakistan băng qua Nepal đến phía Bắc bang Tây Bengal của Ấn Độ và Tây Bắc Bangladesh. Hiện nay cây được tìm thấy ở vùng nhiệt đới trên khắp Châu Phi, Đông Nam Á và Nam Mỹ. Khu vực phát sinh cây Chùm ngây [6].
Ở các nước nghèo, các nước đang phát triển cây được trồng để cải thiện chế độ dinh dưỡng cho người dân. Tại Việt Nam, cây mọc phân tán trên nương rẫy, vườn hộ gia đình nhiều nơi như Thanh Hóa, Ninh Thuận, vùng Bảy Núi ở An Giang, đảo Phú Quốc,. Trước đây cây ít được chú ý, có nơi trồng chỉ để làm hàng rào, làm bóng mát,. Trong vài chục năm trở lại đây, cây được trồng có chủ định với quy mô trang trại hoặc vườn nhà với mục đích làm rau xanh cho con người hoặc xuất khẩu nguyên liệu thô và một phần nào đó được chế biến thành các sản phẩm khác [6], [9].
TỔNG QUAN VỀ HÓA HỌC CỦA CÂY CHÙM NGÂY Tính đến nay, M. đã được nghiên cứu nhiều về thành phần hóa học. Mỗi bộ phận của cây lại có những thành phần hoá học khác nhau được liệt kê dưới đây [42], [34]: Lá - Favonoid: rutin, quercetin và dẫn xuất glycosid của quercetin, isoquercetin, astragalin, isorhamnetin, kaempferol và dẫn xuất glycosid của kaempferol, apigenin, luteolin, genistein, daidzein, myricetin, epicatechin. - Glucosinolat và isothiocyanat: 4-(α-L-rhamnopyranosyloxy) benzyl glucosinolat (glucomoringin), 4-[(2′-O-acetyl-α-L-rhamnosyloxy) benzyl] glucosinolat, 4-[(3′-O-acetyl- α-L-rhamnosyloxy) benzyl] glucosinolat, 4-[(4′-O-acetyl-α-L-rhamnosyloxy)benzyl] glucosinolat, 4-[(α-L-rhamnosyloxy) benzyl] isothiocyanat, 4-[(2′-O-acetyl-α-L- rhamnosyloxy) benzyl] isothiocyanat, 4-[(3′-O-acetyl-α-L-rhamnosyloxy) benzyl] 7 isothiocyanat, 4-[(4′-O-acetyl-α-L-rhamnosyloxy) benzyl] isothiocyanat, 4-[(β-D- glucopyranosyl-1Æ4-α-L-rhamnopyranosyloxy) benzyl] isothiocyanat, sinalbin.
- Axit phenolic: axit gallic, axit salicylic, axit gentisic, axit syringic, axit ellagic, axit ferulic, axit caffeic, axit o-coumaric, axit p-coumaric, axit sinapic, axit chlorogenic, axit cryptochlorogenic. - Alkaloid: 4′-hydroxyphenylethanamid-α-L-rhamnopyranosid (marumosid A), marumosid B, N, α-L-rhamnopyranosyl vincosamid, pyrrolemarumin-4″-O-α-L-rhamnopyranosid, niazimicin, niaziminin. Vỏ quả - Terpen: all-E-lutein, all-E-luteoxanthin, 13-z-lutein, 15-z-β-caroten, all-E-zeaxanthin. Hạt - Favonoid: myricetin, quercetin-3-O-glucosid.
- Glucosinolat và isothiocyanat: 4-(α-L-rhamnopyranosyloxy) benzyl glucosinolat (glucomoringin), benzyl glucosinolat (glucotropaeolin), 4-[(β-D-glucopyranosyl-1Æ4-α-L- rhamnopyranosyloxy) benzyl] isothiocyanat. - Alkaloid: O-ethyl-4-[(α-L-rhamnosyloxy)-benzyl] carbamat, niazimicin, pterygospermin. - Axit béo: axit oleic, axit linoleic, axit myristic, axit palmitic, axit palmitoleic, axit stearic, axit arachidic, axit linolenic, axit behenic, axit paullinic. Rễ - Favonoid: procyanidin.
- Alkaloid: aurantiamide acetat; 1, 3-dibenzyl urea. - Axit béo: axit palmitic, axit arachidic. TỔNG QUAN VỀ TÁC DỤNG DƢỢC LÝ 2. Ngoài nƣớc Tác dụng chống oxy hoá Năm 2016, Fitriana và cộng sự đã nghiên cứu hoạt tính chống oxy hoá của dịch chiết metanol, etyl axetat, diclometan và n-hexan từ lá Chùm ngây theo phương pháp DPPH, ABTS.
Kết quả cho thấy chiết xuất từ lá M. oleifera có hoạt tính chống oxy hoá với IC50 cao nhất ở hai phương pháp DPPH, ABTS lần lượt là 49,30 μg/ml và 11,73 μg/ml [48]. Năm 2011,Veena cùng cộng sự cũng đã nghiên cứu hoạt tính chống oxy hóa của vỏ quả M. oleifera bằng các phương pháp DPPH, FRAP, FTC, TBA.
Kết quả của thử nghiệm được so 8 sánh với chất chuẩn quercitin, rutin, BHA và BHT. Nghiên cứu cho thấy chiết xuất từ vỏ quả của M. oleifera có hoạt tính chống oxy hóa [47]. Tác dụng chống động kinh Năm 2011, Amrutia Jay và cộng sự đã nghiên cứu tác dụng chống co giật của dịch chiết metanol từ lá M.
oleifera với mức liều 200 mg/kg và 400 mg/kg ở đường tiêm.