MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Từ cuối những năm 1980, tài chính vi mô (TCVM) đã bắt đầu có mặt tại Việt Nam thông qua các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ (NGOs), các chương trình hỗ trợ phát triển chính thức song phương và đa phương. Đầu những năm 1990, Chính phủ đã có một chương trình xoá đói, giảm nghèo cấp quốc gia thông qua tín dụng được coi là một trong những công cụ chiến lược. Các trung gian tài chính với nhiệm vụ được Chính phủ ủy quyền cung cấp tín dụng vi mô, bao gồm Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NHNN&PTNT), Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH), Quỹ tín dụng nhân dân,… Bên cạnh đó, Chính phủ đã khuyến khích sự tham gia của các tổ chức đoàn thể vào lĩnh vực TCVM như Hội phụ nữ (HPN), Hội nông dân (HND), Hội cựu chiến binh (HCCB), Đoàn thanh niên (ĐTN).
Theo số liệu thống kê của Nhóm công tác TCVM Việt Nam (2012), hiện nay trên cả nước có tổng cộng 34 tổ chức hoạt động TCVM và các tổ chức này chịu sự giám sát của Ngân hàng nhà nước (NHNN). Sự phát triển mạnh mẽ của TCVM về phạm vi tiếp cận và các dịch vụ cung ứng, đặc biệt là các dịch vụ về tín dụng và tiết kiệm đã đáp ứng được phần lớn nhu cầu vốn cho phát triển kinh tế. Theo quyết định của Thủ tướng chính phủ số 2195/QĐ-TTg ngày 06/12/2011 phê duyệt Đề án xây dựng và phát triển hệ thống TCVM Việt Nam đến năm 2020 với mục tiêu xây dựng và phát triển một hệ thống TCVM phát triển an toàn, bền vững tại Việt Nam, hướng đến phục vụ người nghèo, người có thu nhập thấp, góp phần thực hiện chủ trường của Đảng và Nhà nước về đảm bảo an sinh và giảm nghèo bền vững [14, tr 1]. Trong Công tác xã hội thực hành chuyên nghiệp, phát triển cộng đồng (PTCĐ) được xem như là một phương pháp can thiệp ở cấp độ vĩ mô bên cạnh các phương pháp công tác xã hội khác ở cấp độ vi mô và trung mô là phương pháp công tác xã hội với cá nhân và công tác xã hội với nhóm.
Với lịch sử phát triển, hiện nay có nhiều phương pháp tiếp cận trong PTCĐ lấy con người làm trọng tâm và phát 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com triển con người vì con người. Vì vậy, thước đo của phát triển là thể hiện tiềm năng, khả năng của con người để làm chủ môi trường sống của chính họ. Mục đích là nhằm tăng cường quyền lực cho cộng đồng thông qua các phương thức tạo quyền, tăng năng lực hướng đến PTCĐ một cách tự lực. Vì mục đích của PTCĐ không chỉ là tạo ra những thay đổi về lượng (có nhà cửa, vốn liếng, thu nhập, .) mà quan trọng hơn cả là một tinh thần tự nguyện, biết hợp tác, biết chia sẻ trách nhiệm, biết huy động tài nguyên từ bên trong và bên ngoài khi gặp khó khăn, nhằm không ngừng cải thiện chất lượng cuộc sống trong cộng đồng.
Hiện nay, trong các chương trình/ dự án PTCĐ, bên cạnh việc nhắm đến mục đích đáp ứng các nhu cầu trước mắt của cộng đồng, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân thì mục đích quan trọng nhất muốn hướng đến là PTCĐ một cách bền vững thông qua một quá trình nâng cao năng lực cộng đồng (NLCĐ) để hướng đến cộng đồng tự lực. Ở trên thế giới có rất nhiều chương trình, chính sách được lồng ghép trong các dự án PTCĐ, ngoài mục đích nhằm tăng thu nhập, cải thiện chất lượng cuộc sống thì còn nhắm đến nâng cao NLCĐ thể hiện thông qua các cách tiếp cận như phương pháp tiếp cận từ dưới lên (bottom-up); phương pháp đồng tham gia (PRA); phương pháp tiếp cận PTCĐ dựa vào nội lực và do người dân làm chủ (ABCD); và phương pháp phân tích kinh tế cộng đồng (“chiến lược xô kinh tế” - bucket strategies). Những phương pháp tiếp cận này đã và đang được triển khai áp dụng tại Việt Nam thông qua rất nhiều các tổ chức trong và ngoài nước như NGOs; các Trung tâm nghiên cứu phát PTCĐ;. và đã đạt được những thành quả nhất định trong mục tiêu chiến lược phát triển quốc gia.
TCVM là một chương trình dành cho người nghèo, đặc biệt người nghèo ở nông thôn khi họ ít có cơ hội tiếp cận các nguồn vốn để phát triển kinh tế, và trên thế giới cũng có những nghiên cứu cho thấy mối quan hệ của TCVM đến phát triển NLCĐ như nghiên cứu của Horvath (2001) trường Đại học Calgary “Xây dựng NLCĐ thông qua nhóm tín dụng tiết kiệm cho 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dân tộc thiểu số ở Canada”; nghiên cứu của Diaz và Hector Luis (2007) “NLCĐ và phát triển kinh tế vi mô: một nghiên cứu từ Peru”; hay nghiên cứu của Lisa Young Larance (1998) “Xây dựng vốn xã hội từ trọng tâm: một điều tra cấp thôn bản của Ngân hàng Grameen”. Ở Việt Nam, hiện nay TCVM là một lĩnh vực ngày càng được quan tâm và có những chiến lược, kế hoạch phát triển theo lộ trình rõ ràng. Hiện cũng đã có một số công trình nghiên cứu đánh giá về những tác động của TCVM. Những tác động thường được đánh giá và nhìn nhận trên bốn cấp độ: kinh doanh, cá nhân, hộ gia đình, và cộng đồng [22, tr 9].
Thực tế cho thấy, nhiều công trình nghiên cứu chủ yếu đi sâu vào đánh giá những tác động ở cấp độ kinh doanh, cá nhân hay hộ gia đình. Như vậy ở cấp độ cộng đồng thường có ít những nghiên cứu đi sâu vào phân tích tìm hiểu đánh giá một cách cụ thể. Hiện nay, tại Lâm Đồng nói chung và huyện Đức Trọng nói riêng có nhiều chương trình dự án đã và đang triển khai với mục đích nâng cao năng lực của cộng đồng. Và cũng có những hoạt động đánh giá tính hiệu quả của các chương trình hỗ trợ đem lại, đặc biệt là TCVM thuộc NHCSXH cho người nghèo, người thu nhập thấp vay dưới mô hình các Tổ tiết kiệm và vay vốn (TK & VV).
Tuy nhiên, hiện chưa có nghiên cứu nào tìm hiểu sâu những tác động của TCVM ở cấp độ cộng đồng, đặc biệt là ở khía cạnh tác động của nó đối với phát triển NLCĐ. Như vậy, làm thế nào để các tổ TK & VV hỗ trợ tốt nhất cho các thành viên và cộng đồng? Vai trò thực tế cuat tổ TK & VV là gì? Tác động chính của TCVM thông qua tổ TK & VV đến NLCĐ thể hiện như thế nào? Đây là những vấn đề thường chưa được quan tâm nhiều trong các nghiên cứu cho đến nay. Khỏa lấp một khoảng trống hiện nay về TCVM và có cái nhìn xác thực, sâu rộng hơn về những tác động của TCVM đối với NLCĐ, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tác động của tài chính vi mô đối với phát triển năng lực cộng đồng”. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu 2. Tình hình trên thế giới Nghiên cứu về mối quan hệ giữa tài chính vi mô với năng lực cộng đồng Mối quan hệ giữa tài chính vi mô và năng lực cộng đồng được Horvath (2001) quan tâm nghiên cứu trong “Xây dựng năng lực cộng đồng thông qua các nhóm tín dụng – tiết kiệm cho đồng bào dân tộc thiểu số ở Canada”. Trong nghiên cứu của mình, Horvath xem xét việc thúc đẩy NLCĐ thông qua các nhóm TCVM cho đồng bào dân tộc thiểu số ở Canada. Dựa trên nghiên cứu định tính thông qua quan sát tham dự và phỏng vấn sâu, Horvath có những đúc kết rằng, các hoạt động TCVM phải vượt xa hơn mục tiêu đơn thuần về kinh tế, nghĩa là kết hợp các mục tiêu tham gia của cộng đồng và phát triển vào chương trình của chính cộng đồng.
Sáu khía cạnh quan trọng của NLCĐ được Horvath xác định trong nghiên cứu này gồm: 1) phát triển cá nhân; 2) ý thức cộng đồng; 3) mạng lưới kinh tế xã hội; 4) khả năng mang đến sự thay đổi cộng đồng; 5) Tăng sức mạnh bên ngoài cộng đồng; và 6) duy trì nền văn hóa. Horvath đã có những hướng dẫn giúp cho việc nâng cao NLCĐ thông qua các hoạt động nhóm TCVM. Ông cũng có những phát hiện rằng, các nhóm tham gia vào TCVM không được nhận thanh toán các chi phí của các hoạt động sáng kiến chẳng hạn như: vận động chính sách, đào tạo. Nghiên cứu không cho thấy những vấn đề có thể nảy sinh có thể ảnh hưởng đến nhóm, ảnh hưởng đến tính bền vững của TCVM khi các thành viên tham gia trong các nhóm TCVM không có những khoản tài trợ cho sáng kiến.
Điều này ông lý giải rằng, người dân tham gia vào nhóm TCVM đã kết nối, hình thành mạng lưới, biết hành động mang đến sự thay đổi bên trong cộng đồng thông qua khả năng huy động nguồn lực của nhóm mà không cần sự hỗ trợ từ bên ngoài. Điều này thể hiện yếu tố tự lực của các nhóm TCVM góp phần thúc đẩy phát triển cộng đồng. Như vậy, trong nghiên cứu của mình, Horvath sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, tập trung vào phỏng vấn sâu và quan sát tham dự. Ông đã đưa ra được 06 kết quả chính của nghiên cứu thể hiện tác động của TCVM đối với phát 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com triển NLCĐ.
Tuy nhiên, với cách tiếp cận trong nghiên cứu định tính, ông mới chỉ đưa ra được các dữ liệu cho thấy những tác động thay đổi dựa trên những đặc điểm đã phát hiện mà chưa có con số cụ thể thể hiện sự thay đổi tác động của TCVM đem lại để có cái nhìn toàn diện hơn. Mặt khác, ngoài những phát hiện cho thấy kết quả tác động của TCVM đối với phát triển NLCĐ ở những đặc điểm quan trọng trên, thì nghiên cứu chưa cho thấy cụ thể năng lực giải quyết vấn đề và cơ hội sử dụng các nguồn lực của nhóm TCVM. Vì vậy, trong nghiên cứu “tác động của TCVM đối với phát triển năng lực cộng đồng”, chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính như Horvath, và tập trung vào các khía cạnh mà Horvath chưa cho thấy trong nghiên cứu của mình như năng lực giải quyết vấn đề và cơ hội sử dụng các nguồn lực. Bên cạnh nghiên cứu của Horvath (2001), thì Diaz, Luis (2007) cũng có công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa NLCĐ và kinh tế vi mô trong “Năng lực cộng đồng và phát triển kinh tế vi mô: nghiên cứu đến từ Peru”.
Trong nghiên cứu của mình, Diaz và Luis tập trung vào các nguồn vốn như là các thành phần cốt lõi của NLCĐ nhằm mục đích để khám phá mối liên hệ giữa các tổ chức, hiệp hội với phát triển kinh tế vi mô.