Chương I: Những vấn đề lý luận. Chương II: Quy định mới theo Luật Trọng tài thương mại và những tác động tới hoạt động giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Chương III: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành Luật Trọng tài thương mai. CHUONG 1: NHỮNG VAN ĐÈ LÝ LUẬN 1.
Giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tai và các yếu tố tác động tới hoạt động giải quyết tranh chấp bằng trọng tài 1. Khái quát về giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài Trọng tài thương mại ra đời từ rất sớm va ở các nước có nên kinh tế thi trường phát triển, phần lớn các tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực thương mại thường được các bên tin tưởng lựa chọn giải quyết thông qua phương thức trọng tài. Có nhiều quan điểm khác nhau về trọng tại thương mại, ta có thê tiếp cận khái niệm này ở một số phương diện sau: Theo cuốn Dai từ điển Kinh tế thị trường : “Trọng tai là một phương thức giải quyết hòa bình các vụ tranh chấp. Là chỉ đôi bên đương sự tự nguyện đem những sự việc, những van dé tranh chấp giao cho bên thứ ba có tr cách công bằng chính trực xét xử, lời phán quyết do người này dua ra có hiệu lực ràng buộc với cả hai bên” [trang 11,13].
Theo cuốn Dao đức và kỹ năng hành nghề luật sư trong nên kinh tế thi trường định hướng xã hội chủ nghĩa có nêu: “ Trọng tai là phương thức giải quyết tranh chấp theo đó hai hay nhiễu bên đưa vụ tranh chấp của họ ra trước bên thứ ba trung lập dé chủ thé này tiễn hành tranh chấp theo những thủ tục đặc trưng cua qua trình do” [trang 12,13]. Tuy có những khái niệm và nhận định khác nhau về trọng tài thương mại được đưa ra song tựu chung lại, có thể đánh giá trọng tài là hình thức giải quyết tranh chấp mang bản chất phi chính phủ, thông qua hoạt động của các trọng tài viên, với tư cách là bên thứ ba độc lập, được các bên có tranh chấp tin tưởng lựa chọn dé giải quyết những mâu thuẫn giữa các chủ thé này. Giữa các bên xảy ra tranh chấp phải tồn tại một thỏa thuận trọng tài thống nhất đưa vụ tranh chấp ra giải quyết băng trọng tài thì trọng tài mới có quyền giải quyết. Trọng tài sẽ giải quyết các xung đột này bằng cách đưa ra phán quyết trên nguyên tắc tự định đoạt của các bên đương sự và buộc các bên phải thi hành phán quyết được đưa ra.
Hiện nay, trọng tài ở các nước nói chung tồn tại dưới hai hình thức cơ bản là trọng tài vụ việc và trọng tài thường trực. Trọng tài vụ việc là phương thức trọng tài hình thành trên sự thỏa thuận của các bên để giải quyết tranh chấp. Hình thức trọng tài này chỉ tồn tại trong thời gian giải quyết tranh chấp, sau khi tranh chấp được giải quyết, trọng tài vụ việc sẽ chấm dứt sự tồn tai của mình. Cơ cấu tô chức của trọng tài vụ việc nhìn chung rất đơn giản và linh hoạt: trọng tài vụ việc không có trụ sở thường trực, không có bộ máy điều hành thường xuyên, liên tục và thậm chí không có danh sách trọng tài viên riêng.
Trọng tài vụ việc không đưa ra các quy tắc tố tụng dành riêng cho mình. Do vậy, khi đưa vụ tranh chấp ra giải quyết, các bên có thê thỏa thuận lựa chon bat kỳ quy tắc tô tụng phổ biến nào, mà thông thường là các quy tắc tố tụng của các trung tâm trọng tài có uy tín trong nước và quốc tế. Như vậy, có thê thấy rằng hình thức trọng tài vụ việc đã đề cao ý chí tự định đoạt và tôn trọng sự thỏa thuận của các bên khi giải quyết tranh chấp. Chính bởi ưu điểm này mà trọng tài vụ việc đã được các nước trên thế giới sử dụng từ rất Sớm.
Không giống hình thức trọng tài vụ việc được thành lập từ sự thỏa thuận của các bên tranh chấp, trọng tài thường trực có cơ cau tổ chức chặt chẽ, trụ sở giao dịch cô định, có tư cách pháp nhân và hoạt động theo điều lệ do chính nó đề ra. Trọng tài thường trực có danh sách trọng tài viên và thường có quy tắc tố tụng riêng. Trên thế giới, trọng tài thường trực được tổ chức dưới các hình thức đa dạng như Trung tâm trọng tài, Hiệp hội trọng tài hay các Viện trong tài, nhưng phổ biến nhất vẫn là các Trung tâm trọng tài. So với Tòa án thì phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài có những ưu điêm nôi trội hơn như sau: Thứ nhất, giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài thương mại được thực hiện theo trình tự tố tụng linh hoạt và mềm déo.
Luật trọng tài các nước nói chung và Luật trọng tài thương mại 2010 Việt Nam nói riêng đều quy định thủ tục đơn giản, chủ yếu dựa trên đặc điểm của các bên và đề cao sự thỏa thuận này. Các bên đương sự có quyền thỏa thuận các van đề: ngôn ngữ sử dụng trong tố tụng trọng tai, địa điểm giải quyết vụ tranh chấp, đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài các bên có quyền chọn luật áp dụng, quyết định số lượng trọng tài viên trong Hội đồng trọng tài. Trong khi đó, giải quyết tranh chấp tại Tòa án là hình thức giải quyết tranh chấp do cơ quan tài phán nhà nước thực hiện, cần tuân theo quy trình tố tung chặt chẽ của pháp luật tố tụng theo nguyên tắc “bất di bất dịch”. Ở Tòa án, khi xét xử, đương sự phải tuân theo quy định về thời gian, địa điểm, cách thức, thủ tục xét xử đã được quy định từ trước.
Thứ hai, trọng tài là cơ chế giải quyết tranh chấp bảo đảm bí mật tối đa cho các bên. Hầu hết pháp luật về trọng tài các nước đều thừa nhận nguyên tắc xét xử kín, nếu giữa các bên không có sự thỏa thuận nào khác. Những nội dung của vụ tranh chấp, các thỏa thuận của các bên, quá trình xét xử không được công khai. Điều này giúp các nhà kinh doanh giữ được bí mật trong hoạt động kinh doanh của mình.
Đây là điều không thé thực hiện khi giải quyết tranh chấp tại Tòa án, bởi tại Tòa, với các thủ tục tố tụng được diễn ra công khai, công chúng đều được quyền tham dự phan nào sẽ ảnh hưởng đến uy tin của các bên tham gia tranh chấp. Thứ ba, phán quyết của trọng tài có tính chung thâm. Tính chung thâm của phán quyết trọng tài được thé hiện ở chỗ khi các bên đưa tranh chấp ra giải quyết tại trọng tài, vụ việc đó sẽ được xét xử một lần. Phán quyết trọng tài có giá trị ràng buộc với các bên tranh chấp, các bên phải thi hành phán quyết trọng tài.
Khi phán quyết được đưa ra, các bên không thể chống án hay kháng cáo. Đây là ưu điểm nổi trội so với xét xử tại Tòa án, có thể Tòa án phải xét xử từ sơ thâm, phúc thâm, thậm chí kéo dài đến thủ tục giám đốc thâm, tái thâm. Quy trình xét xử kéo dài như vậy sẽ gây tốn kém về thời gian, chi phí của các chủ thể kinh doanh. Theo ông Nguyễn Minh Chí, Chủ tịch Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam, trong thực tiễn giải quyết tranh chấp đã xảy ra những trường hợp: “Một vụ tranh chấp trị giá hàng triệu USD có khi chỉ được giải quyết trong vòng 3-4 tháng.
Trong khi đó, nếu đưa ra Tòa án sẽ kéo dài hàng năm” [trang 2,26]. Thứ tư, giải quyết tranh chấp thương mại giúp duy trì được quan hệ đối tác của các bên. Do việc xét xử không công khai nên ít ảnh hưởng đến uy tín các bên nên các bên vẫn giữ được hòa khí trong quan hệ hợp tác. Ở Tòa án, các bên trực tiếp tranh luận công khai trước nhiều người dé tạo tâm lý hiếu thắng, dễ làm hỏng mối quan hệ hợp tác giữa đôi bên.
Thứ năm, phán quyết trọng tài được công nhận thi hành tại nước ngoài. Thông qua một loạt các công ước quốc tế, đặc biệt là Công ước Newyork 1958 về công nhận và thi hành quyết định trọng tài nước ngoài, các quyết định trọng tài sẽ được công nhận va thi hành tại các quốc gia, vùng lãnh thổ là thành viên của Công ước. Hiện nay đã có khoảng 150 quốc gia đã ký Công ước NewYork về thi hành các quyết định của trọng tài. Những yếu tô tác động tới hoạt động giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài Dé việc giải quyết tranh chấp băng trọng tài đạt hiệu qua, cần có sự kết hop của nhiều yếu tổ như trình độ phát triển của nền kinh tế, chất lượng văn bản quy phạm về trọng tài, tâm lý của chủ thể tranh chấp, năng lực trọng tài viên, cơ chế thực thi phán quyết trọng tài.
Các yếu tố này sẽ là điều kiện lý tưởng để việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài đạt hiệu quả. Mỗi yếu tố có một vi trí, vai trò riêng, có sự tac động riêng tới từng khía cạnh của hoạt động 10 trọng tài, trong đó các quy định pháp luật về trọng tài là yếu tô có tác động trực tiếp nhất và là yếu tố quan trọng nhất. Thứ nhất là trình độ phát triển của nền kinh tế Quá trình hội nhập quốc tế hiện nay đang diễn ra hết sức mạnh mẽ, trong điều kiện đó, mỗi quốc gia không thể đứng ngoài, tự tách mình khỏi quá trình hội nhập quốc tế. Đối với nền kinh tế của mỗi quốc gia, sản phẩm làm ra của mỗi tập đoàn không còn bó buộc trong một phạm vi và lãnh thô nhất định, mà được gắn kết với nền kinh tế toàn cầu.
Sự phát triển kinh tế ở Việt Nam cũng dẫn tới việc ra đời của hàng loạt doanh nghiệp mới với lĩnh vực kinh doanh đa dạng. Theo thống kê của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, hiện cả nước có khoảng 500.000 doanh nghiệp, đặc biệt số các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngày càng gia tăng và đóng góp vai trò ngày càng quan trọng vào đời song kinh tế của đất nước. Vì thế, số các vụ việc tranh chap trong tương lai gan sẽ ngày càng nhiều hơn, nhu cau giải quyết các tranh chấp linh hoạt, nhanh chóng được đặt ra ngày càng cấp thiết hơn. Nhờ đó, số lượng vụ việc được thỏa thuận giải quyết tại trọng tài cũng sẽ tăng lên.
Nền kinh tế phát triển cũng đặt ra những đòi hỏi cao hơn đối với hoạt động trọng tài, theo đó quá trình tố tụng trọng tài phải đáp ứng được yêu cầu của các bên tranh chấp về thời gian, hiệu quả giải quyết tranh chấp.