CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VE PHAP LUẬT GIẢI QUYẾT TRANH CHAP LAO ĐỘNG 1. Khái niệm, đặc điểm của pháp luật giải quyết tranh chấp lao động Giải quyết nhu cầu lao động luôn là van đề được Đảng, Nhà nước và toàn xã hội chú trọng quan tâm vì đó là vấn đề có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh tế, xã hội của quốc gia. Đặc biệt, với sự phát triển, hội nhập nền kinh tế thế giới sâu, rộng như hiện nay thì việc phát sinh các mối quan hệ lao động đa dạng, phát sinh các tranh chấp lao động phức tạp ở nhiều lĩnh vực là kết quả tất yếu của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Tranh chấp lao động phát sinh khi có sự bất đồng, xung đột trong quan hệ lao động được biểu hiện ra bên ngoài, đó là những tranh chấp về điều kiện lao động, điều kiện làm việc, về các chế độ chính sách trong quan hệ lao động, hoặc cũng có thé là những xung đột về hành vi liên quan đến hoạt động lao động của người lao động.
Hay có thê hiểu, tranh chấp lao động là tranh chấp về các van đề liên quan đến việc xác lập, duy trì, cham dứt mối quan hệ lao động giữa các bên, các xung đột liên quan đến quyền, lợi ich của các bên gồm người lao động và người sử dụng lao động. Nhu vậy, tranh chấp lao động có thể hiểu là tranh chấp về quyên, nghĩa vụ và lợi ích phát sinh giữa các chủ thể của quan hệ lao động hoặc quan hệ có liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động va gắn liền với quá trình lao động của người lao động. Ở Việt Nam, tranh chấp lao động đã được đề cập khá sớm trong nhiều văn bản pháp luật và dưới những tên gọi khác nhau. Khái niệm “tranh chấp lao động” chính thức được sử dụng trong Thông tư liên ngành số 02/TT — LN ngày 02/10/1985 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Lao động và Tổng cục dạy nghề về việc hướng dẫn thực hiện thâm quyền xét xử của Toà án nhân dân về một số việc tranh chấp trong lao động.
Tuy nhiên, tại Thông tư này, khái niệm “tranh châp lao động” không được xác định vê nội hàm mà chỉ là cụm từ có tính thông báo (tranh chấp lao động là gì, đó là tranh chấp giữa ai với ai. Đến thời kỳ đổi mới, thuật ngữ tranh chấp lao động mới được sử dụng rộng rãi trong các văn bản pháp luật. Điều 27 Pháp lệnh hợp đồng lao động năm 1990 quy định: “Bất đồng nảy sinh giữa hai bên về việc thực hiện hợp đồng lao động được coi là tranh chấp lao động và được giải quyết theo trình tự giải quyết tranh chấp lao động”. Đây là quy định đầu tiên giải thích khái niệm tranh chấp lao động.
Tuy nhiên, quy định tại Điều 27 Pháp lệnh hợp đồng lao động năm 1990 vẫn chưa phải là một định nghĩa về tranh chấp lao động. Phải đến khi Bộ luật lao động ra đời năm 1994, Việt Nam mới có một định nghĩa chính thức về tranh chấp lao động. Khoản 1 Điều 157 Bộ luật lao động năm 1994 quy định: “Tranh chấp lao động là những tranh chấp về quyên, lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác, về thực hiện hợp đông lao động, thoả ước lao động tập thể và trong quá trình học nghề”. Định nghĩa trên đã được sửa đổi theo Luật sửa đối, bổ sung năm 2006 như sau: “Tranh chấp lao động là những tranh chấp về quyên và lợi ích phát sinh trong quan hệ lao động giữa người lao động, tập thể lao động với người sử dụng lao động”.
Kế thừa khái niệm đó, Khoản 7 Điều 3 Bộ luật lao động năm 2012 quy định “Tranh chấp lao động là tranh chấp về quyên, nghĩa vụ và lợi ích phát sinh giữa các bên trong quan hệ lao động”. Tranh chấp lao động bao gồm tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động và tranh chấp lao động tập thé giữa tap thé lao động với người su dung lao động. Từ khái niệm trên, có thé thấy: chỉ được coi là tranh chap lao động khi tranh chấp đó phát sinh giữa các chủ thể của quan hệ lao động (người lao động, tập thể lao động với người sử dụng lao động) và nội dung tranh chấp phát sinh từ các quyền, nghĩa vụ, lợi ích trong quan hệ lao động. Tuy nhiên, Điều 201 Bộ luật lao động năm 2012 lại quy định tranh chấp về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, đơn vi sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc có thời han ở nước ngoài theo hợp đồng; tranh chấp về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểmy tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểmy tế là tranh chấp lao động cá nhân thuộc thâm quyên giải quyét của Toa án nhân dân, như vậy là mâu thuẫn với quy định tại Khoản 7 Điều 3 Bộ luật lao động năm 2012, bởi lẽ một bên chủ thé của tranh chấp không phải là các bên của quan hệ lao động [10].
Dé khắc phục sự hạn chế, bất cập này, Pháp luật lao động Việt Nam hiện hành đã có định nghĩa: “Tranh chấp lao động là tranh chấp về quyên và nghĩa vụ, lợi ích phát sinh giữa các bên trong quá trình xác lập, thực hiện hoặc cham dứt quan hệ lao động; tranh chấp giữa các tổ chức đại diện người lao động với nhau; tranh chấp phát sinh từ quan hệ có liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động” [21]. Như vậy, tranh chấp lao động là tranh chấp phát sinh giữa các bên trong quan hệ lao động trong quá trình thuê mướn, sử dụng lao động, bao gồm cả cá nhân và tập thé người lao động, đại diện các bên trong quan hệ lao động. Và tranh chấp phát sinh từ một số quan hệ liên quan đến quan hệ lao động như quan hệ về dao tạo, đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp,. cũng được coi là tranh chấp lao động (Khoản 1 Điều 188 Bộ luật lao động năm 2019).
Ngoài ra, với việc ghi nhận tô chức đại diện của người lao động không thuộc hệ thống Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, Bộ luật lao động năm 2019 cũng tính đến trường hợp phát sinh tranh chấp giữa các tô chức đại diện người lao động. Bên cạnh việc đưa ra khái niệm về tranh chấp lao động thì BLLĐ 2019 cũng đã quy định một cách cụ thê những tranh chấp được xem là tranh chấp lao động, bao gồm: - Tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động; giữa người lao động với doanh nghiệp, t6 chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; giữa người lao động thuê lại với người sử dụng lao động thuê lại; - Tranh chấp lao động tập thé về quyền hoặc về lợi ích giữa một hay nhiều tô chức đại diện người lao động với người sử dụng lao động hoặc một hay nhiều tô chức của người sử dụng lao động. Trong đó: + Tranh chấp lao động tập thé về quyền là tranh chấp giữa một hay nhiều tô chức đại diện người lao động với người sử dụng lao động hoặc một hay nhiều tổ chức của người sử dụng lao động, phát sinh trong các trường hợp sau: Có sự khác 10 nhau trong việc hiểu và thực hiện quy định của thỏa ước lao động tập thể, nội quy lao động, quy chế và thỏa thuận hợp pháp khác; Có sự khác nhau trong việc hiểu và thực hiện quy định của pháp luật về lao động; Khi người sử dụng lao động có hành vi phân biệt đối xử đối với người lao động, thành viên ban lãnh đạo của tổ chức đại diện người lao động vì lý do thành lập, gia nhập, hoạt động trong tổ chức đại diện người lao động; can thiệp, thao túng tổ chức đại diện người lao động; vi phạm nghĩa vụ về thương lượng thiện chí. + Tranh chấp lao động tập thể về lợi ích bao gồm: Tranh chấp lao động phát sinh trong quá trình thương lượng tập thé; Khi một bên từ chối thương lượng hoặc không tiến hành thương lượng trong thời hạn theo quy định của pháp luật.
Có thê thấy, khái niệm về tranh chấp lao động trong BLLĐ 2019 đã đưa ra giải thích cụ thé hơn về các loại tranh chấp được xem là tranh chấp lao động, góp phần giúp cho người lao động có thể dễ dàng xác định được quan hệ tranh chấp từ đó có thé bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi có tranh chấp xảy ra. Mặt khác, BLLĐ 2019 cũng đã ghi nhận quan hệ lao động mới là quan hệ giữa người lao động với doanh nghiệp, tổ chức đưa người lao động đi làm việc nước ngoài theo hợp đồng cũng như giữa người lao động thuê lại với người sử dụng lao động thuê lại. Quy định này đã tạo cơ sở pháp lý điều chỉnh các quan hệ nêu trên, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn cũng như góp phần nâng cao trách nhiệm của những doanh nghiệp, tổ chức đưa người lao động đi làm việc nước ngoài và người sử dụng lao động thuê lại. Ngoài ra, BLLĐ 2019 cũng đã quy định cụ thể các trường hợp phát sinh tranh chấp lao động về quyền, về lợi ich cũng như mở rộng các trường hợp phát sinh tranh chấp này, điều này góp phan bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, của tập thê lao động, đồng thời nâng cao trách nhiệm của người sử dụng lao động trong quan hệ lao động.
Cũng như tất cả các mối quan hệ được hình thành dựa trên cơ sở nguyên tắc tự do, tự nguyện thoả thuận khác, quan hệ lao động cũng có thể phát sinh những tranh chấp khi có sự bất đồng, xung đột về quyền và lợi ích trong quá trình thực hiện. Dé đảm bảo duy trì và tiếp tục phát triển các mối quan hệ lao động nhằm đảm 11 bảo sự ồn định và phát triển của cơ quan, t6 chức, doanh nghiệp thì việc giải quyết những bắt đồng, mâu thuẫn trong tranh chấp lao động là điều tất yếu. Vậy, Giải quyết tranh chap lao động là việc cơ quan, cá nhân có thẩm quyên dua ra cách thức, phương pháp giải quyết những mâu thuân làm phát sinh tranh chấp lao động giữa cá nhân, tập thể người lao động với người sử dụng lao động về việc thực hiện quyên, nghĩa vụ và lợi ích phát sinh trong quan hệ lao động.