Đặt vấn đề Ngân hàng là một trong những ngành kinh tế trọng điểm của nền kinh tế Việt Nam, được xem như một mạch máu nuôi sống nền kinh tế, đóng góp không nhỏ vào sự tăng trưởng và phát triển thịnh vượng của đất nước. Đặt trong bối cảnh đất nước tiến tới một đất nước công nghiệp hóa, điện đại hóa với công nghệ 4.0, vươn lên trong sự hội nhập Quốc tế là một trong những điều tất yếu mà các tổ chức hay cá nhân phải đương đầu với sự canh tranh ngày càng khốc liệt của các Doanh nghiệp trong và ngoài biên giới Việt Nam. Điều này đòi hỏi không ít các Doanh nghiệp phải luôn không ngừng tư duy đổi mới công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất, và tiên tiến hóa hệ thống quản lý Doanh nghiệp, song song các điều kiện trên đòi hỏi đó phải có nguồn vốn tài trợ đồng hành cùng hoạt động sản xuất kinh doanh. Một phần không nhỏ trong nền kinh tế đó chính là hệ thống NHTM đóng vai trò khá quan trọng trong việc tài trợ vốn và điều hòa vốn chủ yếu đối với các chủ thể trong nền kinh tế, bởi vì hoạt động của NHTM tác động trực tiếp đến tình hình hoạt động kinh doanh, ổn định cũng như chiến lược phát triển của các Ngân hàng trong nền kinh tế.
Do đó, lợi nhuận của NHTM là một trong những vấn đề khá nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Trong những năm gần đây sự trổi dậy và xâm nhập vào nền kinh tế Việt Nam của nhiều tổ chức tài chính cung cấp vốn ngoài Ngân hàng, vấn đề đặt ra cho Ngân hàng làm sao có thể cân bằng và quản trị một cách hiệu quả nhưng vẫn tối đa hóa lợi nhuận cho Ngân hàng thương mại là một trong những vấn đề khá thách thức. Hiện nay nền kinh tế của các quốc gia trên thế giới không ngừng phát triển, vị thế của các quốc gia cũng đã dần dần thay đổi, bởi tốc độ phát triển của các quốc gia mới nổi, nơi mà nền kinh tế hứa hẹn những cơ hội đầu tư tiềm năng. Với những lợi thế chưa được khai thác như nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, nguồn lao động dồi dào đang được đào tạo và hoàn hiện.
Và hơn hết nhu cầu về mục tiêu lợi nhuận đang được hướng đến nhiều nhất. 15 Để tồn tại và phát triển trên thị trường kinh tế, buộc các Ngân hàng thương mại phải hoạt động bền vững và có hiệu quả, bởi vậy vấn đề về khả năng sinh lời của Ngân hàng thương mại khá được quan tâm hàng đầu. Chính khả năng sinh lời là nền tảng quan trọng trong việc đổi mới, đa dạng hóa sản phẩm, là động lực thôi thúc sự tồn tại và vươn phát triển vững mạnh, mà còn là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá tình hình hoạt động của Ngân hàng. Việc nghiên cứu các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh Ngân hàng để hiểu rõ hơn về bản chất cũng như hoạt động của hệ thống NHTM tại Việt Nam là nhu cầu thiết thực, để từ đó tìm ra những giải pháp nâng cao khả năng sinh lời là một trong những vấn đề lớn hết sức quan trọng của NHTM Việt Nam hiện nay.2 Tính cấp thiết Ngân hàng trên Thế giới xuất hiện vào thế kỳ 17, Ở Việt Nam Ngân hàng chính thức hoạt động vào năm 1951, tính đến hiện tại đã hơn 6 thập kỷ trôi qua, hệ thống Ngân hàng Việt Nam không ngừng cố gắng vươn lên, Ngân hàng thương mại Việt Nam ban đầu có quy mô nhỏ, năng lực tài chính còn non yếu, đa phần chỉ chú trọng vào việc cung cấp các sản phẩm và dịch vụ chuyên biệt của Ngân hàng trong thị trường nội địa.
Thị trường tài chính Quốc tế với mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt với những khó khăn và rào cản gia nhập ngành giữa các quốc gia nói chung và các Doanh nghiệp trong ngành tại Việt Nam nói riêng. Hàng loạt tổ chức tài chính ra đời, hệ thống Ngân hàng thương mại xây dựng chiến lược phát triển tăng tốc chạy đà, việc chạy đuổi theo lợi nhuận là một trong những xu hướng các nước phát triển đang tiến tới, đất nước Việt Nam ta cũng đang nổ lực từng ngày đổi mới để tiến tới đất nước Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa, vận động theo xu hướng nền kinh tế thị trường. Trải qua hàng trăm năm lịch sử, từ thời chiến tranh đến thời bình, đến cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái toàn cầu 2008 kèm theo tình hình chính trị bất ổn ở nhiều nơi. Những khó khăn chồng chất khó khăn, tuy nhiên hệ thống Ngân hàng đã từng bước tháo gỡ những khó khăn vươn mình lên phát triển trong các rào cản ấy.
Trong tương lai Ngân hàng còn phải đối mặt với rất 16 nhiều thử thách và khó khăn trở ngại về các vấn đề như thanh khoản, tỷ lệ an toàn vốn, nợ xấu, áp lực về cạnh tranh lãi suất, đặc biệt áp lực về mục tiêu lợi nhuận Ngân hàng v/v. Đối với các nước đang phát triển, nhu cầu đầu tư về vốn là rất cao do tiềm lực nguồn vốn trong nước còn đang hạn chế, áp lực ngày càng tăng cao đòi hỏi các NHTM tìm cách giải bài toán tối ưu chi phí nhưng lại mang lại hiệu quả kinh doanh. Huy động nguồn vốn đầu vào là yếu tố cơ bản duy trì hoạt động và phát triển của NHTM, huy động vốn càng dồi dào thì cơ hội cạnh tranh càng lớn, nhận thức được tầm quan trọng của vốn trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng, một trong những giải pháp tác giả nghiên cứu đến việc đa dạng hóa nguồn vốn là phát hành trái phiếu, kênh dẫn vốn tương đối lớn thu hút sự tham gia mạnh mẽ của các nhà đầu tư trong bối cảnh hiện nay. Đặc biệt có rất nhiều bài nghiên cứu cũng như các bài báo, tạp chí phân tích các nhân tố ảnh hưởng, tác động của huy động vốn đến lợi nhuân NHTM.
Nhưng thực tế trong rất ít các bài nghiên cứu chuyên sâu phân tích sự đóng góp kênh huy động vốn từ phát hành Trái phiếu đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Việc mở rộng các hoạt động, các kênh đầu tư, các kênh huy động vốn đạt mục tiêu tăng cường bổ sung nguồn vốn ngắn hạn cũng như dài hạn cho hoạt động kinh doanh ngày càng đa dạng là cơ hội thuận lợi để các NHTM nâng tầm vị thế và khả năng cạnh tranh cũng nhu mang lại hiệu quả hoạt động kinh doanh NHTM. Theo Midiglinani và Miler (1963) cho rằng các doanh nghiệp ngày càng có xu hướng xử dụng nợ nhiều hơn càng tạo ra khả năng sinh lời lớn. Trong khi đó gần đây xu hướng phát hành trái phiếu dần trở thành kênh huy động vốn thay thế và tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc đa dạng hóa nguồn vốn huy động của Ngân hàng, đồng thời đây là kênh huy động mới mà chính phủ và các Ngân hàng đang được quan tâm hướng đến và tận dụng cho nhu cầu phát triển.
Nhìn chung loại hình này còn khá mới mẻ. Xuất phát từ vấn đề thực tiễn và nhu cầu thiết thực của hệ thống Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế khá quan trọng, đặc biệt đối với các khu vực và vùng miền đã và đang hướng đến toàn cầu hóa. Ngân hàng thương mại ở Việt Nam trên đà vươn tới phát 17 triển với mong muốn bổ sung thêm kiến thức và hiểu biết và ứng dụng trong việc hạch định chiến lược cũng như định hướng phát triển vươn tầm quốc tế. Nhu cầu lớn về quy mô cũng như nguồn vốn dồi dào cho quá trình đầu tư vào hệ thống Ngân hàng, nâng tầm vị thế và tạo các lợi thế nổi bật.
Với sức ép cạnh tranh nhưng đảm bảo theo đuổi mục tiêu lợi nhuận bằng việc tối ưu hiệu quả giữa đầu vào và đầu ra về nguồn vốn. Trong những năm gần đây hoạt động kinh doanh Trái Phiếu là một trong những hoạt động huy động vốn khá phát triển ở các Ngân hàng trên Thế giới với sự xâm nhập mạnh mẽ bằng nhiều hình thức đi kèm và mức độ chuyên nghiệp mang lại hiệu quả kinh tế cao cho NHTM ở nước ngoài. Tiếp nối và kế thừa những tinh hoa trong việc vận dụng mở rộng kiến thức về lĩnh vực này, thị trường Việt Nam đang được quan tâm, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển ở thị trường này, kênh huy động vốn qua phát hành Trái phiếu ngày càng chuyên nghiệp và hứa hẹn nhiều cơ hội trên thị trường này. Ở Việt Nam đổi mới từng ngày trong khi hoạt động Ngân hàng đang gặp nhiều khó khăn, lợi nhuận suy giảm, nợ xấu tăng cao, việc các NHTM thực hiện lựa chọn kênh kinh doanh Trái phiếu là lựa chọn hứa hẹn nhiều cơ hội và xu hướng tất yếu cho hệ thống NHTM.
Việc huy động vốn bằng công cụ nợ trái phiếu làm giảm áp lực một phần cho các NHTM trong việc huy động vốn thay vì phải đi vay, và đảm bảo nguồn vốn có tính ổn định và có kế hoạch vốn trong tương lai đồng thời kém rủi ro hơn so với phát hành cổ phiếu. Đây là một trong những hướng chiến lược kinh doanh phát triển tiềm năng, thực tế thấy rằng, trong khoảng thời gian từ suy thoái kinh tế năm 2008 đến phục hồi kinh tế đến tăng trưởng và phát triển kinh tế, có rất nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước về sự mới mẻ các nhân tố tác động đến lợi nhuận Ngân hàng thương mại, tuy nhiên chưa có nhiều nghiên cứu về tác động của kênh huy động vốn từ công cụ nợ như phát hành giấy tờ có giá, trái phiếu v/v. Với mong muốn góp phần mới mẻ trong chiến lược phát triển thị trường Trái phiếu đầy tiềm năng này. Chính vì vậy tôi chọn đề tài “Ảnh hưởng kênh huy động vốn qua phát hành Trái phiếu đến lợi nhuận Ngân hàng thương mại giai đoạn 2010- 2020.” Làm đề tài nghiên cứu.2 Mục tiêu đề tài 1.1 Mục tiêu tổng quát Phân tích và lượng hóa mức độ ảnh hưởng kênh huy động vốn qua Phát hành Trái phiếu đến lợi nhuận Ngân hàng Thương Mại Việt Nam giai đoạn 2010-2020.
Từ đó đề xuất một số giải pháp về huy động vốn qua phát hành Trái phiếu nhằm nâng cao khả năng sinh lời của NHTM Việt Nam.2 Mục tiêu cụ thể - Phân tích thực trạng của kênh huy động vốn qua Phát hành Trái phiếu ảnh hường đến lợi nhuận của NHTM tại Việt Nam thông qua chỉ tiêu đo lường khả năng sinh lời của Ngân hàng. - Nghiên cứu tác động từ kênh huy động vốn qua phát hành Trái phiếu đến lợi nhuận của NHTM Việt Nam giai đoạn 2010-2020.