Chương 1: Giới thiệu vấn đề nghiên cứu Chương 2: Các nghiên cứu thực nghiê ̣m về phát hành lầ n đầ u ra công chúng Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Nội dung và kết quả nghiên cứu. Chương 5: Kết luận và gơ ̣i ý chin ́ h sách. 123doc -6- CHUƠNG 2: CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ PHÁT HÀNH LẦN ĐẦU RA CÔNG CHÚNG Các nghiên cứu về sự kiện phát hành lần đầu tiên ra công chúng ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi được các nhà nghiên cứu tài chính thực hiện ở phần lớn các quốc gia phát triển. Họ đã thực hiện với nhiều phương pháp với các mẫu nghiên cứu và thời gian nghiên cứu khác nhau.
Các nghiên cứu về các công ty phát hành lần đầu ra công chúng thường định giá thấp. Mức giá được chiết khấu có thể được chuyển hóa vào chênh lệch giữa giá chào bán và giá ngày giao dịch đầu tiên dẫn đến tỷ suất sinh lợi cổ phiếu IPO là dương trong ngày giao dịch đầu tiên (Miller and Reilly,1987; Allen and Faulhaber, 1989; Rock, 1986). Tuy nhiên, trong dài hạn tỷ suất sinh lợi cổ phiếu IPO có 2 ý kiến trái ngược nhau. Ý kiến thứ nhất, cho rằng trong dài hạn các cổ phiếu phát hành lần đầu ra công chúng IPO thường có tỷ suất sinh lợi cổ phiếu thấp hơn so với tỷ suất sinh lợi thị trường (underperformance) ít nhất trong thời gian từ 3 đến 5 năm.
Ý kiế n thứ hai, cho rằng các cổ phiếu phát hành lần đầu ra công chúng không bị định giá thấp trong dài hạn. Họ tin tưởng vào giả thuyết thị trường hoàn hảo. Hay nói cách khác các công ty phát hành lần đầu ra công chúng có thể có tỷ suất sinh lợi cao hơn tỷ suất sinh lợi thị trường (overperformance) hoặc thấp hơn tỷ suất sinh lợi thị trường (underperformance) và xác suất xảy ra cho hai trường hợp là như nhau.1 Các nghiên cứu về tỷ suất sinh lợi cổ phiếu phát hành lần đầu ra công chúng so với tỷ suất sinh lợi thị trƣờng trong ngắn hạn Các nhà nghiên cứu thường tìm thấy các công ty phát hành lần đầu ra công chúng thường định giá thấp bởi tổ chức bảo lãnh phát hành. Có nhiều nghiên cứu giải thích nguyên nhân của việc định giá thấp như là một cách để tạo nên tỷ suất sinh lợi cổ phiếu IPO cao hơn tỷ suất sinh lợi thị trường trong ngắn hạn.
Tổng hợp các nguyên nhân cơ bản bao gồm: 123doc -7- (1) Định giá thấp đã tạo nên tỷ suất sinh lợi cao hơn tỷ suất sinh lợi thị trƣờng trong ngắn hạn. Kevin Rock (1986) đã xây dựng mô hình về định giá thấp của các công ty phát hành lần đầu ra công chúng và kết luận rằng các công ty thường định giá thấp là do một số nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chính là tính không chắc chắn về giá trị của cổ phiếu được chào bán. Tính không chắc chắn sẽ ngày càng gia tăng do sự bất cân xứng thông tin giữa ―nhà đầu tư có hiểu biết‖ và―nhà đầu tư thiếu thông tin‖. Do đó, để thu hút sự tham gia của ―nhà đầu tư thiếu thông tin‖ thì tổ chức phát hành thường định giá thấp.
Bên cạnh đó, Ogden et al (2003) cho rằng nguyên nhân khác của việc định giá thấp là giảm rủi ro tranh chấp đối với các tổ chức bảo lãnh phát hành. Một số ý kiến khác trong đó có Allen and Faulhaber (1989), Grinblatt and Hwang (1989) và Welch (1989) cho rằng cáccông ty tự nguyện trong việc bán giá thấp cổ phiếu của họ như một cách phát đi tính hiệu về định giá thấp. Điều này sẽ tạo sự thu hút các nhà đầu tư, bên cạnh sự cộng tác của các chuyên gia phân tích sẽ tạo nên thông tin tích cực khi giao dịch trên thị trường thứ cấp. Tại Việt Nam, Gavriel Ayi Ayayi (2011) thực hiện nghiên cứu ―Định giá thấp và tỷ suất sinh lợi cổ phiếu so với tỷ suất sinh lợi thị trường trong dài hạn của việc đấu giá lần đầu ra công chúng IPO: trường hợp của Việt Nam‖.
Tổng số mẫu nghiên cứu gồm 206 công ty thực hiện đấu giá từ tháng 2/2005 đến tháng 6/2007. Phương pháp chính sử dụng định giá là DCF để tránh trường hợp các công ty nhà nước có lợi nhuận âm hoặc không có lợi nhuận. Gavriel Ayi Ayayi đã rút ra một số kết luận sau: Thứ nhất, các cuộc IPO ở Việt Nam bị chi phối bởi các doanh nghiệp có vốn hóa lớn (các công ty nhà nước) chiếm 98.5% tổng số IPO và họ cố gắng chọn thời điểm thích hợp nhất cho việc IPO của họ. Thứ hai, có sự khác biêt trong hệ thống đấu giá của các công ty ở Việt Nam và tạo ra tỷ suất sinh lợi từ khi đấu giá đến khi niêm yết thay đổi bất thường (từ -93.
Thứ ba, trung bình tỷ suất sinh lợi trong ngày đầu tiên giao dịch khá thấp 0. 123doc -8- (2) Sự lạc quan quá mức của thị trƣờng là nguyên nhân gây ra tỷ suất sinh lợi cao hơn so với thị trƣờng trong ngắ n ha ̣n Purnanandam and Swaminathan (2004) trong nghiên cứu ―Phát hành lần đầu ra công chúng IPO có thực sự được định giá thấp?‖ sử dụng các phương pháp định giá là phương pháp bội số như PS, PE, P/EBITDA. Kết quả thống kê cơ bản cho thấy IPO có xu hướng đem lại lợi nhuận trong 5 ngày giao dịch đầu tiên, tuy nhiên giá trị trung vị cho thấy các công ty IPO định giá cao khi sử dụng phương pháp bội số so sánh với các doanh nghiêp cùng ngành khoản 14%-50% phụ thuộc vào phương pháp định giá được sử dụng. Những kết quả trên cho thấy các nhà đầu tư thường quá lạc quan trong việc dự báo tăng trưởng và ít chú ý đến lợi nhuận hiện tại trong giá trị của các công ty IPO.
Cùng nghiên cứu đề tài như Purnanandam and Swaminathan, Steven X. Zheng (2007) lại cho thấy trong ngắn hạn các công ty định giá thấp với mong muốn tỷ suất sinh lợi cao hơn so với thị trường. Tuy nhiên trong dài hạn các công ty IPO không có tỷ suất sinh lợi cao hơn tỷ suất sinh lợi thị trường trong 5 năm sau khi IPO. (3) Nguồn cung hạn chế trong ngày giao dịch đầu tiên là nguyên nhân tạo ra tỷ suất sinh lợi cao hơn so với tỷ suất sinh lợi thị trƣờng trong ngắ n ha ̣n Zheng (2007) cho thấy nguồn cung giới hạn - được đo lường qua tỷ lệ số lượng cổ phiếu tự do lưu hành (free float) chia cho số lượng cổ phiếu được phát hành lần đầu, là nguyên nhân tạo ra tỷ suất sinh lợi cao hơn so với thị trường.
Trong đó nguồn cung hạn chế là do quy định về hạn chế tự do chuyển nhượng của cổ đông nội bộ, cổ đông sáng lập, cổ đông lớn trong vòng 180 ngày (6 tháng) kể từ ngày chào bán. Bên cạnh đó, theo Ogden et al (2003) cho thấy trung vị (median) tỷ lệ cổ phiếu bị hạn chế chuyển nhượng 6 tháng trong thời gian nghiên cứu 1991- 2000 là 65%. Đồng thời, trong ngày giao dịch đầu tiên cổ phiếu không được thực hiện các giao dịch bán khống (short sell). Với số lượng đặt mua quá mức khiến những nhà đầu tư muốn mua chứng khoán trong đợt phát hành lần đầu ra công chúng phải trả giá cao hơn so với giá chào bán.
Một công ty IPO có khối lượng 123doc -9- đặt mua quá mức sẽ dẫn đến giá tăng cao trong ngắn hạn trong ngày giao dịch đầu tiên sau khi niêm yết (Ellis 2005 and Zheng 2007). (4) Nhu cầu cao và khối lƣợng giao dịch cũng là nguyên nhân đẩy giá cổ phiếu trong ngày giao dịch đầu tiên tăng và dẫn đến tỷ suất sinh lợi cổ phiếu IPO cao hơn so với tỷ suất sinh lợi thị trƣờng trong ngắ n ha ̣n Theo Aggarwal (2003) tìm thấy khối lượng giao dịch trong ngày giao dịch đầu tiên cao đột biến với mức trung bình chiếm 70% tổng số cổ phiếu được chào bán IPO. Bên cạnh đó, Geczy et al (2002), Ellis (2006) cho rằng những nhà đầu tư tìm kiếm lợi nhuận từ biến động giá cổ phiếu sẽ là những người góp phần gia tăng khối lượng giao dịch. Ellis (2006) trong bài nghiên cứu ―Ai là người giao dịch trong đợt phát hành lần đầu ra công chúng IPO? Góc nhìn từ ngày giao dịch đầu tiên‖ cho thấy những nhà đầu tư kiếm lợi nhuận bằng việc mua đi bán lại (Flippers) và các nhà đầu tư thường nhận cổ phiếu từ đợt phát hành lần đầu ra công chúng và bán lại chúng trong một vài ngày sau đó cũng tạo nên ảnh hưởng đến khối lượng giao dịch ngày đầu tiên.
Cuối cùng ở tổ chức vi mô hơn, những người mua bán (dealer) thường sắp xếp lượng hàng tồn kho từ đợt IPO để chơi một trò chơi của người tạo lập thị trường (market maker) đối với chứng khoán mới niêm yết, tạo nên khối lượng giao dịch lớn. Theo Ellis, có đến 25% khối lượng giao dịch trung bình trong ngày giao dịch đầu tiên được giao dịch bởi những nhà mua bán quốc tế (interdealer).2 Các nghiên cứu về tỷ suất sinh lợi cổ phiếu phát hành lần đầu ra công chúng so với tỷ suất sinh lợi thị trƣờng trong dài hạn Ý kiến thứ nhất : Tỷ suất sinh lợi cổ phiếu phát hành lần đầu ra công chúng thấp hơn tỷ suấ t sinh lợi thi ̣ trường trong dài hạn Phần lớn các nghiên cứu của Loughran, Ritter and Rydqvist (1994), Ogden et al (2003), Zheng (2007) đều cho rằng các cổ phiếu IPO có tỷ suất sinh lợi thấp hơn tỷ suất sinh lợi thị trường trong dài hạn. Các nguyên nhân chủ yếu bao gồm: 123doc -10- (1) Sự lạc quan quá mức và hành động thái quá của các nhà đầu tƣ. Một vài đợt IPO thành công với việc định giá cao.
Các nhà đầu tư kỳ vọng rằng việc IPO thực hiện trước sẽ tạo lợi nhuận khi công ty thực hiện niêm yết. Nhiều nhà đầu tư thất bại thừa nhận rằng tăng trưởng lợi nhuận trong ngắn hạn sẽ được hòa nhập ngược lại trong dài hạn, thậm chí còn có thể bị lỗ. Hiện tượng này được giải thích là do thị trường dần dần phản ảnh đúng với các hành động thái quá. (2) Vấn đề chi phí đại diện liên quan đến dòng tiền thu từ đợt IPO.
Zheng (2007) cho rằng vấn đề chi phí đại diện sẽ ảnh hưởng đến dòng tiền tăng lên từ đợt IPO và sẽ được chuyển hóa làm IPO được định giá cao trong ngắn hạn và tỷ suất sinh lợi cổ phiếu IPO tăng trưởng thấp hơn tỷ suất sinh lợi thị trường (underperformance) trong dài hạn. (3) Sự không chắc chắn về giá trị của công ty IPO cũng ảnh hƣởng đến tỷ suất sinh lợi của công ty.