chương 1 nhận dạng khoảng trống nghiên cứu, trên cơ sở đó xác định mục tiêu nghiên cứu.1 Thể chế và môi trường thể chế 1.1 Khái niệm thể chế Lý thuyết thể chế phát triển rộng rãi từ những năm thập kỷ 20-30 của thế kỷ 19 nhưng xuất hiện sớm hơn từ cuối thế kỷ XIX. Cho đến nay, nhiều định nghĩa về thể chế được đưa ra đòi hỏi phải có lựa chọn để xác định định nghĩa phù hợp, giảm thiểu các tranh cãi [30], đồng thời thống nhất cách thức tiếp cận xuyên suốt quá trình nghiên cứu. Thực tế là, nếu như hai học giả cùng nói về “thể chế” nhưng đề cập đến các hiện tượng hoàn toàn khác nhau thì khó có thể tìm được điểm đích đến chung. Nhà kinh tế học Thorstein Veblen (1857 - 1929), được coi là người sáng lập lý thuyết thể chế, đã đưa ra định nghĩa sớm nhất về thể chế, ông định “Thể chế là tính quy chuẩn của hành vi hoặc các quy định xác định hành vi trong những tình huống cụ thể, được các thành viên của nhóm xã hội chấp nhận về cơ bản và sự tuân thủ các quy tắc đó là do bản thân tự kiểm soát hoặc do quyền lực bên ngoài khống chế”.
Thập kỷ 1990 chứng kiến sự bùng nổ của lý thuyết thể chế, đại diện tiêu biểu là các học giả như North, Scott và những người khác như Ronald Coase, Oliver Williamson, và D.Acemoglu định hình cho thuyết tân thể chế ngày nay, cho rằng cấu trúc và hành động của một tổ chức bị ảnh hưởng bởi môi trường xã hội [31]. Theo nhận định của Hoskisson [32], lý thuyết thể chế đặc biệt thích hợp để giải thích hành vi của DNKN. Nhà kinh tế Douglass North, giáo sư kinh tế lượng tại Đại học Washington, giải Nobel kinh tế 1993, người có nhiều cuốn sách về thể chế kinh tế, đưa ra khái niệm về thể chế rõ ràng và cụ thể: “Thể chế luật lệ của trò chơi trong xã hội (the rules of the game in a society)”; hay nói một cách trang trọng hơn, thể chế là những ràng buộc do con người tạo ra (human devised contrains) để định hình những mối quan hệ giữa con người với nhau [33]. Douglass North tiếp cận khái niệm thể chế như là một công cụ 9 quan trọng để ra quyết định trong bối cảnh thông tin không hoàn hảo và hạn chế về năng lực cá nhân.
Thể chế, được con người nghĩ ra để tạo ra trật tự và giảm bớt sự không chắc chắn trong giao dịch [34]. Ông xác định các thể chế bao gồm: (1) những ràng buộc phi chính thức và (2) những quy tắc chính thức. Trong đó quy tắc chính thức, bao gồm các quy tắc chính trị, pháp lý và các quy tắc kinh tế hợp đồng, được tạo ra một các có ý thức và dưới hình thức chính thức bao gồm Hiến pháp, thông luật, các chính sách, các quy định chính thức, các hợp đồng, …thiết lập các quy tắc xã hội để điều chỉnh hành vi cá nhân. Các quy tắc phi chính thức là các ràng buộc phi chính thức điều chỉnh hành vi như là các cấm đoán theo phong tục, tập quán, truyền thống, các chuẩn mực đạo đức, …, đây là những khái niệm, thói quen và quy tắc hành vi mà con người đã phát triển qua các hoạt động xã hội và tương tác xã hội lâu dài.
Đồng ý với North, các học giả khác cho rằng theo thể chế là những quy tắc phổ biến do con người tạo ra, nhằm ràng buộc cách ứng xử khả dĩ cơ hội chủ nghĩa của con người. Thể chế không chỉ là chế độ chính trị của một quốc gia, thể chế là những ràng buộc định hình cách thức tương tác giữa con người với con người, giữa tổ chức với tổ chức [35]. Khái niệm này hàm ý thể chế là những luật chơi, nhưng cũng nói đến bản chất xã hội của các thể chế. Không chỉ các nhà kinh tế đưa ra định nghĩa thể chế, các tổ chức liên chính phủ cũng có những tiếp cận về “thể chế”.
Theo Ngân hàng Thế giới năm 2003 thể chế là: “Những quy tắc và tổ chức, gồm cả các chuẩn mực không chính thức, phối hợp hành vi con người. Hệ thống chuẩn mực không chính thức bao gồm cả lòng tin và các giá trị xã hội (trong đó có cả những chuẩn mực lâu đời chi phối các hành vi xã hội) đến các cơ chế và mạng lưới phối hợp không chính thức. Trong khi đó, hệ thống thể chế chính thức lại bao gồm: luật pháp, các văn bản quy phạm pháp luật khác, các thủ tục cũng như các chủ thể chịu trách nhiệm xây dựng, sửa đổi, giải thích và thi hành các luật lệ và quy chế đó”. Do các thể chế điều khiển hành vi con người nên con người sẽ làm việc với nhau hiệu quả khi thể chế hoạt động tốt; ngược lại thể chế hoạt động yếu kém hoặc thiếu hiệu quả sẽ gây ra sự mất lòng tin và/hoặc tình trạng bất ổn định.
Theo Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF)6: “Thể chế có thể được hiểu là cái tạo thành khung khổ trật tự cho các quan hệ của con người, định vị cơ chế thực thi và giới hạn của các quan hệ giữa các bên tham gia tương tác; là ý chí chung của cộng đồng xã hội trong việc xác lập trật tự, những quy tắc, những ràng buộc và các chuẩn mực, giá trị chung được mọi người chia sẻ.” Các nhà nghiên cứu Việt Nam cũng định nghĩa “thể chế” khác nhau trong nghiên cứu của mình, nhưng về cơ bản đều thừa nhận các thế chế xác định và hạn chế nhiều lựa chọn của các cá nhân, làm giảm tính bất trắc, qua đó tạo sự khuyến khích trong giao lưu của con người về nhiều mặt như chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Những hạn chế hay quy định từ thể chế bao gồm những việc cá nhân không được 6 Diễn đàn Kinh tế thế giới WEF: Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu năm 2009, 2010 10 làm, và đôi khi những việc cá nhân được làm trong một số điều kiện nhất định. Theo An (2017) [37] “thể chế được hiểu là những quy định, quy tắc có tính ràng buộc do Nhà nước ban hành (thể chế chính thức) hoặc theo tập quán và truyền thống (thể chế phi chính thức) được đảm bảo bởi cơ chế thực thi và chủ thể thực thi gắn liền với cơ chế đó”. Nghiên cứu của Thanh (2019) [38] sử dụng khái niệm của các học giả trước đây “thể chế là tập hợp những quy tắc chính thức, các quy định không chính thức hay những sự tín ngưỡng, nhận thức chung có tác động kìm hãm, định hướng hoặc chi phối sự tương tác của các chủ thể chính trị với nhau trong những lĩnh vực nhất định”.
Như vậy, có thể thấy rằng, mặc dù có nhiều định nghĩa “thể chế” được đề cập, tuy nhiên, một cách tổng quát thể chế là luật chơi, cách chơi (cơ chế, chế tài thực thi), và người chơi” (con người, tổ chức gắn với hành vi). Trong nghiên cứu này, dựa trên các khái niệm “thể chế” được đưa ra, trong luận án này, nghiên cứu sinh cho rằng cách tiếp cận của Noth là phù hợp để đánh giá tác động của thể chế đến DNKN. Trên cách tiếp cận này, nghiên cứu sinh định nghĩa: Thể chế là các quy tắc do con người tạo ra để điều chỉnh và định hình hành vi tương tác giữa các chủ thể trong xã hội. Các quy tắc chính thức bao gồm các luật lệ, quy định và chính sách, trong khi các quy tắc không chính thức bao gồm cả niềm tin xã hội, tục lệ, văn hóa, chuẩn mực, truyền thống chi phối các hành vi xã hội”.2 Khái niệm môi trường thể chế Theo từ điển Anh - Việt (Viện Ngôn ngữ học, NXB TP.
Hồ Chí Minh) khái niệm môi trường (environment) là “điều kiện, hoàn cảnh, những sự vật xung quanh; sự bao quanh, sự bao vây, sự vây quanh làm tác động đến đời sống của mọi người”. Luật Bảo vệ Môi trường định nghĩa “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên”7. Đối với các tổ chức, môi trường chỉ các yếu tố, các lực lượng, các định chế tồn tại bên ngoài của tổ chức mà các nhà quản trị khó hoặc không kiểm soát được chúng nhưng chúng lại ảnh hưởng đến hoạt động và kết quả hoạt động của tổ chức. Như vậy, Môi trường, được hiểu là tổ hợp các yếu tố tự nhiên, xã hội bao quanh bên ngoài tác động và xác định tình trạng tồn tại của một hệ thống hoặc một thực thể nào đó.
Ở góc độ thể chế được định nghĩa ở trên, phù hợp với cách định nghĩa của Douglas North, theo Nye (2008) [39], “Thể chế là các quy tắc và luật, cả chính thức và không chính thức, và các cơ chế thực thi tạo nên một ma trận hoặc môi trường thể chế nhất định”. Trong luận án này, khái niệm môi trường thể chế được hiểu là “tổng thể các thể chế trong bối cảnh cụ thể cùng điều chỉnh tương tác, xác định xu hướng hành vi và tình trạng tồn tại của các chủ thể trong xã hội”. Trong phạm vi đối tượng nghiên cứu của luận án, các chủ thể ở đây là các DNKN. Môi trường thể chế ở cấp độ vĩ mô, gồm các quy tắc ảnh hưởng đến hành vi và hiệu suất của các tác nhân kinh tế, cụ thể là “một tập hợp các quy tắc cơ bản về chính 7 Theo Điều 1, Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam 11 trị, xã hội và luật pháp thiết lập cơ cở cho sản xuất, trao đổi và phân phối”8 [40], [41].
Tương tự, theo Swaminathan & Wade (2016) [42], “môi trường thể chế bao gồm các quy định, phong tục và các chuẩn mực được coi là đương nhiên phổ biến ở các quốc gia, xã hội, ngành nghề và tổ chức, những điều này ảnh hưởng và định hình hành vi và kết quả của tổ chức”. Các tổ chức, bao gồm các doanh nghiệp, tuân theo các quy tắc được thể chế hóa không phải chỉ vì các quy tắc này là thiết thực mà còn bởi vì khi thực hiện như vậy sẽ được những bù đắp và khen thưởng xứng đáng, chẳng hạn các doanh nghiệp sẽ nhận được nhiều hơn các nguồn lực, được thừa nhận tính hợp pháp và dẫn đến cơ hội sống sót cao hơn. Vì vậy môi trường thể chế “được đặc trưng bởi việc xây dựng các quy tắc và yêu cầu mà các tổ chức cá nhân phải tuân theo để nhận được tính hợp pháp và sự ủng hộ” [43].