Luận án TS Nguyễn Thị Kim Dung: Tác động KTTT đến đạo đức SXKD VN

Phân tích sâu sắc tác động của kinh tế thị trường đến đạo đức sản xuất kinh doanh tại Việt Nam hiện nay. Bài viết khám phá những thách thức và cơ hội mà doanh

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

183
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Tác Động Kinh Tế Thị Trường Đến Đạo Đức SXKD Việt Nam Hiện Nay

Kinh tế thị trường (KTTT) đã và đang tạo ra những chuyển biến sâu sắc trong mọi mặt đời sống xã hội Việt Nam, bao gồm cả lĩnh vực đạo đức sản xuất kinh doanh (SXKD). Sự phát triển mạnh mẽ của KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa không chỉ mang lại cơ hội tăng trưởng vượt bậc mà còn đặt ra nhiều thách thức cho chuẩn mực đạo đức. Việc phân tích rõ ràng tác động KTTT đến đạo đức SXKD Việt Nam hiện nay là cần thiết để định hình các chính sách và hành vi kinh doanh có trách nhiệm. Nghiên cứu này tập trung vào việc làm rõ các khía cạnh tích cực và tiêu cực, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm củng cố đạo đức kinh doanh trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Mục tiêu là hướng tới một nền kinh tế không chỉ tăng trưởng về lượng mà còn phát triển bền vững về chất, dựa trên nền tảng trách nhiệm xã hội doanh nghiệpvăn hóa doanh nghiệp lành mạnh.

1.1. Khái Quát Về Kinh Tế Thị Trường Và Đạo Đức Kinh Doanh

Kinh tế thị trường là một hệ thống kinh tế trong đó các quyết định về sản xuất, phân phối và giá cả được định hình bởi cung và cầu trên thị trường, với vai trò quản lý của Nhà nước. Đối với Việt Nam, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình đặc thù, kết hợp các quy luật thị trường với mục tiêu xã hội chủ nghĩa, nhằm mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh" [19, tr.]. Mô hình này vận hành đầy đủ theo các quy luật của nền kinh tế thị trường như quy luật cung – cầu, quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, đồng thời đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đạo đức kinh doanh là tập hợp các nguyên tắc và chuẩn mực ứng xử của chủ thể kinh doanh, chi phối các hoạt động sản xuất kinh doanh, nhằm đảm bảo sự hài hòa giữa lợi ích cá nhân, lợi ích doanh nghiệp và lợi ích xã hội. Đạo đức kinh doanh không chỉ là tuân thủ pháp luật mà còn vượt xa hơn, thể hiện trách nhiệm xã hội và sự tử tế trong mọi giao dịch.

1.2. Tính Cấp Thiết Trong Nghiên Cứu Tác Động Của KTTT Đến Đạo Đức

II. Phân Tích 4 Thách Thức Lớn Của KTTT Đến Đạo Đức Sản Xuất Kinh Doanh Việt Nam

Sự phát triển của kinh tế thị trường đã mang lại nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra không ít thách thức nghiêm trọng cho đạo đức sản xuất kinh doanh (SXKD) tại Việt Nam. Những thách thức này không chỉ ảnh hưởng đến uy tín doanh nghiệp mà còn tác động tiêu cực đến niềm tin xã hội và sự phát triển bền vững. Nhận diện rõ các vấn đề này là bước đầu tiên để tìm kiếm giải pháp hiệu quả. Thực trạng đạo đức kinh doanh Việt Nam hiện nay cho thấy sự phức tạp, với nhiều biểu hiện tiêu cực cần được quan tâm và giải quyết kịp thời. Các tác động KTTT đến đạo đức SXKD Việt Nam hiện nay cần được nhìn nhận một cách toàn diện để có cái nhìn sâu sắc về những điểm yếu cần khắc phục.

2.1. Gia Tăng Lợi Nhuận Bằng Mọi Giá và Chủ Nghĩa Thực Dụng Trong Kinh Doanh

Trong môi trường cạnh tranh khốc liệt của kinh tế thị trường, áp lực về lợi nhuận đã khiến một số chủ thể sản xuất kinh doanh đặt lợi ích vật chất lên hàng đầu, bỏ qua các nguyên tắc đạo đức kinh doanh cơ bản. Hiện tượng này dẫn đến việc sử dụng các thủ đoạn bất chính như làm hàng giả, hàng nhái, gian lận thương mại, quảng cáo sai sự thật để tối đa hóa lợi nhuận. Chủ nghĩa thực dụng trong kinh doanh làm lu mờ giá trị nhân văn, biến khách hàng thành đối tượng khai thác thay vì đối tác cần phục vụ. Tình trạng này đe dọa nghiêm trọng đến quyền lợi người tiêu dùng và làm suy yếu lòng tin vào thị trường, cản trở sự phát triển bền vững của nền kinh tế và làm giảm uy tín của doanh nghiệp Việt Nam trên trường quốc tế. Việc chạy theo lợi nhuận ngắn hạn mà bỏ qua các giá trị đạo đức đang là một thách thức lớn.

2.2. Sự Xuống Cấp Của Văn Hóa Doanh Nghiệp và Thiếu Trách Nhiệm Xã Hội

Một trong những tác động tiêu cực của KTTT đến đạo đức SXKD Việt Nam hiện nay là sự xuống cấp của văn hóa doanh nghiệp và thiếu hụt trách nhiệm xã hội doanh nghiệp. Thay vì xây dựng một môi trường làm việc minh bạch, công bằng, nhiều doanh nghiệp lại duy trì văn hóa cạnh tranh nội bộ không lành mạnh, bóc lột sức lao động, hoặc gây ô nhiễm môi trường. Theo luận án, “Nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng với tốc độ nhanh. Tuy nhiên, bên cạnh những thành công về mặt kinh tế, công cuộc đổi mới đang đặt ra cho Việt Nam nhiều vấn đề xã hội đáng quan tâm, trong đó có vấn đề sự xuống cấp của đạo đức. Điều đó có liên quan đến mặt trái của cơ chế thị trường, đến sự tác động tiêu cực của cơ chế thị trường tới các lĩnh vực của đời sống xã hội” [10, tr.]. Khi doanh nghiệp thiếu trách nhiệm xã hội, họ không chỉ làm mất đi thiện cảm từ cộng đồng mà còn đối mặt với nguy cơ bị tẩy chay, ảnh hưởng lâu dài đến thương hiệu và khả năng phát triển bền vững.

2.3. Cạnh Tranh Không Lành Mạnh Và Các Hành Vi Thiếu Minh Bạch

Mặt trái của kinh tế thị trường là sự xuất hiện của cạnh tranh không lành mạnh, gây ảnh hưởng trực tiếp đến đạo đức kinh doanh. Nhiều doanh nghiệp sẵn sàng sử dụng các chiêu trò bẩn, bôi nhọ đối thủ, tung tin đồn thất thiệt, hoặc thực hiện hành vi hối lộ, lót tay để giành lợi thế. Hành vi này không chỉ vi phạm pháp luật mà còn phá vỡ các chuẩn mực đạo đức SXKD, tạo ra một môi trường kinh doanh thiếu công bằng và minh bạch. Hệ quả là các doanh nghiệp làm ăn chân chính bị thiệt thòi, niềm tin của người tiêu dùng và nhà đầu tư bị suy giảm. Những hành vi thiếu minh bạch này làm giảm sức hấp dẫn của thị trường Việt Nam và cản trở sự hình thành một môi trường kinh doanh chuyên nghiệp, có trách nhiệm xã hội.

III. Phương Pháp Hiệu Quả Nâng Cao Đạo Đức Kinh Doanh Bền Vững Trong KTTT Việt Nam

Để phát huy những tác động tích cực của KTTT đến đạo đức SXKD Việt Nam hiện nay và hạn chế tối đa các mặt tiêu cực, việc áp dụng các phương pháp hiệu quả là vô cùng cần thiết. Các giải pháp này cần được triển khai đồng bộ từ cấp độ vĩ mô của Nhà nước đến vi mô của từng doanh nghiệp và cá nhân. Mục tiêu là xây dựng một nền kinh tế thị trường không chỉ năng động mà còn mang tính nhân văn, dựa trên nền tảng đạo đức kinh doanh vững chắc và trách nhiệm xã hội doanh nghiệp cao. Việc này không chỉ giúp nâng cao uy tín của doanh nghiệp Việt Nam mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước.

3.1. Hoàn Thiện Thể Chế KTTT Định Hướng XHCN và Pháp Luật Kinh Doanh

Một trong những giải pháp đạo đức kinh doanh cốt lõi là tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng với đó là hệ thống pháp luật kinh doanh. Theo luận án, “Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa để có tác động tích cực đến đạo đức người sản xuất, kinh doanh Việt Nam hiện nay.” Việc này bao gồm việc xây dựng các quy định rõ ràng, minh bạch, có tính răn đe cao đối với các hành vi vi phạm đạo đức SXKD, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp chân chính. Tăng cường tính nghiêm minh của pháp luật, vai trò giám sát của cơ quan chức năng và của xã hội là yếu tố then chốt để xử lý các vi phạm đạo đức trong sản xuất kinh doanh. Một hệ thống pháp luật chặt chẽ sẽ là hàng rào vững chắc ngăn chặn các hành vi tiêu cực, thúc đẩy đạo đức kinh doanhtrách nhiệm xã hội.

3.2. Xây Dựng Môi Trường Kinh Doanh Lành Mạnh Và Văn Hóa Doanh Nghiệp Chuẩn Mực

Việc xây dựng một môi trường kinh doanh lành mạnh, công bằng là yếu tố then chốt để phát triển đạo đức kinh doanhvăn hóa doanh nghiệp chuẩn mực. Điều này đòi hỏi các cơ quan quản lý nhà nước phải tạo ra sân chơi bình đẳng, loại bỏ các hành vi độc quyền, cạnh tranh không lành mạnh. Đồng thời, các doanh nghiệp cần chủ động xây dựng và duy trì văn hóa doanh nghiệp đề cao giá trị đạo đức, trung thực, minh bạch và trách nhiệm xã hội. Một văn hóa doanh nghiệp mạnh mẽ sẽ là kim chỉ nam cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, giúp nhân viên hiểu rõ và tuân thủ các chuẩn mực đạo đức. Đây là một trong những giải pháp đạo đức kinh doanh hiệu quả nhất để chống lại các tác động tiêu cực của KTTT đến đạo đức SXKD.

IV. Bí Quyết Nâng Cao Trách Nhiệm Xã Hội Doanh Nghiệp và Giáo Dục Đạo Đức Kinh Doanh

Để củng cố đạo đức sản xuất kinh doanh (SXKD) trong bối cảnh kinh tế thị trường hội nhập, không thể bỏ qua vai trò của việc nâng cao trách nhiệm xã hội doanh nghiệp và công tác giáo dục đạo đức một cách bài bản. Các tác động KTTT đến đạo đức SXKD Việt Nam hiện nay đòi hỏi một cách tiếp cận đa chiều, không chỉ từ phía Nhà nước mà còn từ chính bản thân doanh nghiệp và cộng đồng. Việc này là chìa khóa để xây dựng một nền kinh tế không chỉ giàu mạnh mà còn văn minh, có tính nhân văn sâu sắc, hướng tới phát triển bền vững.

4.1. Tăng Cường Giáo Dục Đạo Đức Cho Người Sản Xuất Kinh Doanh Việt Nam

Giáo dục đạo đức đóng vai trò nền tảng trong việc định hình nhận thức và hành vi của người sản xuất, kinh doanh. Việc tăng cường công tác giáo dục đạo đức cần được thực hiện thông qua các chương trình đào tạo, hội thảo chuyên đề, và lồng ghép vào hệ thống giáo dục quốc dân. Nội dung giáo dục cần tập trung vào việc nhấn mạnh tầm quan trọng của đạo đức kinh doanh, trách nhiệm xã hội, và những lợi ích lâu dài mà việc tuân thủ đạo đức mang lại. Điều này giúp hình thành một thế hệ doanh nhân có tâm và có tầm, biết cân bằng giữa lợi ích kinh tế và giá trị đạo đức xã hội. Giáo dục đạo đức chính là một trong những giải pháp đạo đức kinh doanh chiến lược để đối phó với những tác động tiêu cực của KTTT đến đạo đức SXKD Việt Nam hiện nay.

4.2. Khuyến Khích Thực Hành Trách Nhiệm Xã Hội Doanh Nghiệp CSR Hướng Tới Phát Triển Bền Vững

Khuyến khích và hỗ trợ các doanh nghiệp thực hành trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (CSR) là yếu tố then chốt để nâng cao đạo đức kinh doanh và góp phần vào phát triển bền vững. Các chương trình CSR không chỉ giúp doanh nghiệp xây dựng hình ảnh tích cực mà còn tạo ra giá trị chung cho cộng đồng và xã hội. Điều này bao gồm việc bảo vệ môi trường, đảm bảo quyền lợi người lao động, đóng góp vào các hoạt động cộng đồng, và sản xuất kinh doanh minh bạch. Khi doanh nghiệp chủ động thực hiện CSR, họ không chỉ tuân thủ các chuẩn mực đạo đức SXKD mà còn trở thành nhân tố tích cực trong việc giải quyết các vấn đề xã hội. Đây là một "bí quyết" quan trọng giúp doanh nghiệp vượt qua những thách thức đạo đức SXKD trong kinh tế thị trường.

V. Kết Luận Tương Lai Đạo Đức Kinh Doanh Trong Bối Cảnh Kinh Tế Thị Trường Việt Nam

Tóm lại, tác động KTTT đến đạo đức SXKD Việt Nam hiện nay là một bức tranh đa chiều với cả những cơ hội và thách thức to lớn. Mặc dù kinh tế thị trường mang lại động lực phát triển mạnh mẽ, song cũng tiềm ẩn nguy cơ làm suy thoái các giá trị đạo đức kinh doanh nếu không có sự quản lý và định hướng đúng đắn. Việc nhận diện rõ thực trạng đạo đức kinh doanh Việt Nam và áp dụng đồng bộ các giải pháp đạo đức kinh doanh từ hoàn thiện thể chế, nâng cao văn hóa doanh nghiệp, đến tăng cường giáo dục và thực hành trách nhiệm xã hội là yếu tố then chốt. Nền kinh tế Việt Nam đang trên đà hội nhập sâu rộng, đòi hỏi một nền tảng đạo đức sản xuất kinh doanh vững chắc để đảm bảo phát triển bền vững và củng cố niềm tin của xã hội cũng như đối tác quốc tế.

5.1. Tầm Quan Trọng Của Sự Cân Bằng Giữa Lợi Ích Kinh Tế Và Giá Trị Đạo Đức

Sự cân bằng giữa lợi ích kinh tế và giá trị đạo đức là yếu tố cốt lõi quyết định tương lai của đạo đức sản xuất kinh doanh trong kinh tế thị trường Việt Nam. Việc theo đuổi lợi nhuận đơn thuần mà bỏ qua đạo đức sẽ dẫn đến những hệ lụy khôn lường cho doanh nghiệp và xã hội. Ngược lại, một doanh nghiệp hoạt động dựa trên các nguyên tắc đạo đức kinh doanh vững chắc, minh bạch và có trách nhiệm xã hội sẽ tạo dựng được uy tín, thu hút khách hàng và đối tác, từ đó đạt được sự phát triển bền vững lâu dài. Đây là nguyên tắc vàng để hóa giải những tác động tiêu cực của KTTT đến đạo đức SXKD và xây dựng một nền kinh tế nhân văn.

5.2. Hướng Tới Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng XHCN Có Đạo Đức Cao

Mục tiêu cuối cùng là hướng tới xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không chỉ hiệu quả về kinh tế mà còn có đạo đức kinh doanh cao. Điều này đòi hỏi sự chung tay của toàn xã hội: Nhà nước trong vai trò kiến tạo và giám sát, doanh nghiệp trong vai trò thực hành SXKD có trách nhiệm, và người dân trong vai trò giám sát, ủng hộ các sản phẩm, dịch vụ có đạo đức. Việc liên tục hoàn thiện thể chế, phát triển văn hóa doanh nghiệp mạnh mẽ, đẩy mạnh giáo dục đạo đức và khuyến khích trách nhiệm xã hội doanh nghiệp sẽ là con đường để Việt Nam đạt được sự phát triển bền vững, tạo dựng hình ảnh một quốc gia có nền kinh tế phát triển song hành với các giá trị đạo đức cao đẹp.

19/04/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương I bàn về “Kinh tế thị trường và tác động của nó đối với đạo đức” là tài liệu tham khảo có liên quan trực tiếp đến hướng nghiên cứu mà NCS lựa chọn. Đứng trên quan niệm duy vật lịch sử, tác giả Trịnh Duy Huy cho rằng: “Chính từ những quan hệ kinh tế, quan hệ trong quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng sản phẩm, những quan hệ về đạo đức của con người được hình thành” [38, tr.25] từ đó tác giả đi đến kết luận: mỗi khi tồn tại xã hội, cơ chế quản lý kinh tế thay đổi sẽ tác động mạnh mẽ đến đời sống đạo đức xã hội; “trên bình diện xã hội, kinh tế thị trường không chỉ là một phương thức vận hành kinh tế, nó đồng thời còn là cơ sở kinh tế ảnh hưởng toàn diện đến các lĩnh vực xã hội, trong đó có đạo đức”[38, tr. Theo tác giả, sự ảnh hưởng này vừa có tính tích cực, vừa có tính tiêu cực, trong đó ảnh hưởng tiêu cực là điều chúng ta không thể xem thường. Cuốn “Ý thức đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay” của Lê Thị Tuyết Ba, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, năm 2010.

[4] Cuốn sách được tác giả kết cấu thành ba chương, trong đó chương II “Vai trò của ý thức đạo đức và sự biến đổi của ý thức đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay” phần nào chỉ ra sự tác động của kinh tế thị trường đến sự biến đổi đạo đức nói chung, ý thức đạo đức nói riêng. Trong mục “ Sự biến đổi của ý thức đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay”, tác giả đã khái lược các quan niệm khác nhau về sự biến đổi đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường. Đó là “thuyết trượt dốc”, “thuyết leo dốc”. Chỉ ra điểm hợp lý và không hợp lý của các quan niệm này từ đó phân tích những biến đổi theo chiều hướng tích cực cũng như tiêu cực của ý thức đạo đức ở Việt Nam hiện nay.

Theo tác giả “ khả năng dung 10 hợp giữa đạo đức và kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là hoàn toàn có cơ sở” [4, tr. Năm 2012, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành cuốn "Mấy vấn đề về đạo đức học Mác x t và xây dựng đạo đức trong điều iện inh tế thị trường ở iệt Nam hiện nay" của Nguyễn Thế Kiệt, [50]. Cuốn sách gồm có 3 chương, trong đó chương 3 bàn về “ Xây dựng đạo đức mới trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay”. Trong chương 3 này, tác giả đi sâu phân tích sự biến đổi thang giá trị đạo đức dưới tác động của kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay.

Đứng trên quan niệm duy vật lịch sử, tác giả cho rằng, sự biến đổi thang giá trị đạo đức ở Việt Nam hiện nay là một tất yếu. Một trong những nhân tố ảnh hưởng, tác động đến sự biến đổi này chính là kinh tế thị trường. Tác giả còn nhấn mạnh: nền kinh tế thị trường ở Việt Nam còn non trẻ, phải chấp nhận cạnh tranh ngày càng quyết liệt. Đây thực sự là một thách thức lớn cả về kinh tế lẫn xã hội đối với chúng ta, nhất là về vấn đề đạo đức [50, tr.

Ngoài cuốn sách trên, tác giả Lương Gia Ban và Nguyễn Thế Kiệt còn đồng chủ biên cuốn“Giáo dục đạo đức mới cho sinh viên trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay”do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia ấn hành năm 2013 [51]. Tuy là công trình nghiêng về giáo dục đạo đức cho một đối tượng cụ thể là sinh viên, nhưng những gì được tác giả trình bày trong nội dung cuốn sách, nhất là mục: “Kinh tế thị trường và tác động của nó đến giáo dục đạo đức mới cho sinh viên Việt Nam hiện nay” [51,tr.81] có ý nghĩa tham khảo nhất định khi bàn về quan hệ giữa kinh tế thị trường với đạo đức người sản xuất, kinh doanh. Theo các tác giả, trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, đạo đức xã hội có thể biến đổi theo hai chiều hướng: tích cực và tiêu cực. Cho dù chiều hướng tích cực là chủ đạo nhưng chúng ta không thể xem thường chiều hướng tiêu cự vì: “ Kinh tế thị trường có thể dẫn đến nguy cơ phát triển một thế hệ con người phiến diện: coi trọng đời sống vật chất hơn đời sống tinh thần, làm 11 nẩy sinh sự tha hóa về phong cách và lối sống, coi đồng tiền là vạn năng.

Từ đó làm cho không ít người tự đánh mất nhân phẩm của mình” [51, tr. Năm 2012, nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành cuốn “ Định hướng giá trị con người Việt Nam thời kỳ đổi mới và hội nhập” [30] do Phạm Minh Hạc và Thái Duy Tuyên làm chủ biên. Cuốn sách gồm có 3 chương, trong đó chương 2 “Điều tra, khảo sát định hướng giá trị con người Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập” đã có những phân tích khá sâu sắc về định hướng giá trị đạo đức trong nền kinh tế thị trường, đưa ra “ Dự báo sự biến đổi định hướng giá trị con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa”. Dự báo của các tác giả dựa trên hai yếu tố cơ bản.

Một, chủ trương, chính sách của Nhà nước và hai, sự vận động thực tiễn trong xã hội. Đây cũng là một trong những tài liệu tham khảo quý giá đối với tác giả luận án khi phân tích phương thức tác động của kinh tế thị trường đến đạo đức người sản xuất kinh doanh nước ta hiện nay. Trong bài “Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta” đăng trên tạp chí Triết học, số 2-2018, tác giả Nguyễn Thị Hoa tập trung phân tích hai nội dung chính: 1) Nhận thức về thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và 2) Những giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay. Tuy không trực tiếp bàn đến đạo đức của người sản xuất, kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường, nhưng sự phân tích về thể chế kinh tế thị trường của tác giả cũng là tài liệu tham khảo có ý nghĩa nhất định khi tác giả luận án bàn về phương thức tác động của KTTT đến đạo đức của người sản xuất, kinh doanh Việt Nam hiện nay Ngoài các tài liệu trên đây, còn có một số bài đăng trên các tạp chí có nội dung liên quan đến đạo đức trong nền kinh tế thị trường.

Chẳng hạn bài: “Quan hệ giữa đạo đức và kinh tế trong việc định hướng các giá trị đạo đức hiện nay” của Nguyễn Thế Kiệt, Tạp chí Triết học, số 6-1996 [48]; Nguyễn Văn Phúc với bài “Tình cảm đạo đức và giáo dục tình cảm đạo đức trong 12 điều kiện hiện nay”, tạp chí Triết học, số 6-2000 [74]; Trần Nguyên Việt với bài “Giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam và cái phổ biến toàn nhân loại của đạo đức trong nền kinh tế thị trường”, tạp chí Triết học, số 5-2002 [104]. Bài “Sự biến đổi giá trị đạo đức truyền thống trước tác động của kinh tế thị trường ở nước ta” của Trương Thị Phương Thảo, đăng ở Tạp chí Giáo dục, số 3-2016 [85]. Bài: “Tác động của kinh tế thị trường đến lối sống sinh viên Việt Nam hiện nay” của Trần Sỹ Phán và Nguyễn Thị Thanh Huyền, tạp chí Quản lý giáo dục, số 9-2016 [69]; Bài “Nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên theo tinh thần Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị, Khóa XII” của tác giả Trần Sỹ Phán, Tạp chí Triết học, số 12-2016 [70] v. Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến tác động của kinh tế thị trƣờng đến đạo đức xã hội nói chung, đạo đức của ngƣời sản xuất, kinh doanh nói riêng Đứng trước sự tác động mạnh mẽ của kinh tế thị trường đến đạo đức xã hội nói chung, đạo đức của người sản xuất, kinh doanh nói riêng, đã có không ít công trình khoa học, đề tài các cấp, các hội thảo, diễn đàn v.

đi sâu nghiên cứu tác động của kinh tế thị trường đến đạo đức, đến lối sống con người Việt Nam ở nhiều thành phần, lứa tuổi v. Trong đó có cả những diễn đàn do chính doanh nghiệp tổ chức ra nhằm nâng cao văn hóa doanh nghiệp, trong đó có văn hóa đạo đức. Trong bài“ ai trò của đạo đức kinh doanh trong phát triển doanh nghiệp - thực trạng và giải pháp” [142] đăng ở Diễn đàn văn hóa doanh nghiệp, tác giả Trần Trọng Toàn cho rằng: Việt Nam bước vào xây dựng kinh tế thị trường từ một nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp. Văn hóa kinh doanh, trong đó quan trọng nhất là đạo đức kinh doanh chưa được coi trọng đúng mức.Trong hoạt động sản xuất kinh doanh đã xảy ra hàng vạn vụ vi phạm luật pháp và đạo đức kinh doanh với rất nhiều hiện tượng tiêu cực như sử dụng các thủ đoạn không chính đáng, kể cả bất hợp pháp, để đạt lợi nhuận càng nhiều càng tốt; sản xuất, nhập khẩu hoặc kinh doanh hàng giả, hàng 13 nhái, hàng quốc cấm, hàng kém chất lượng, độc hại, kể cả trong sản xuất kinh doanh dược phẩm và thực phẩm không an toàn; không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các chế độ chính sách đối với người lao động như về tiền lương, bảo hiểm, an toàn lao động, chế độ hưu trí; thiếu tôn trọng lợi ích người tiêu dùng, khách hàng và đối tác; trốn thuế, buôn lậu, gian lận thương mại; gây ô nhiễm môi trường tự nhiên và môi trường xã hội; không thực hiện các trách nhiệm xã hội, v.

Tóm lại, kinh tế thị trường đã có những tác động tiêu cực đến đời sống đạo đức xã hội. “Sự biến đổi của thang giá trị đạo đức trong nền kinh tế thị trường với việc xây dựng đạo đức mới cho cán bộ quản lý ở nước ta hiện nay” là nhan đề cuốn sách do Nguyễn Chí Mỳ làm chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia ấn hành năm 1999. Trong công trình nghiên cứu này, các tác giả đã đi sâu phân tích những biến đổi của giá trị và chuẩn mực giá trị đạo đức dưới tác động của nền kinh tế thị trường. Theo đó, những giá trị, những chuẩn mực đạo đức truyền thống đã và đang có sự thay đổi nhất định.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ