Luận án tiến sĩ tác động của giá trị tiêu dùng và tính đổi mới của người tiêu dùng đến hành vi chấp nhận sản phẩm mới thị trường tp hcm

Luận án tiến sĩ phân tích tác động của giá trị tiêu dùng và tính đổi mới đến hành vi chấp nhận sản phẩm mới tại thị trường TP HCM.

Trường đại học

Đại học Tài chính - Marketing

Chuyên ngành

Quản trị kinh doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

304
1
0

Phí lưu trữ

75 Point

Tóm tắt

I. Giá trị tiêu dùng và hành vi chấp nhận sản phẩm mới

Giá trị tiêu dùng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hành vi chấp nhận sản phẩm mới. Nghiên cứu chỉ ra rằng giá trị tiêu dùng bao gồm năm thành phần: giá trị chức năng, giá trị tri thức, giá trị độc đáo, giá trị kinh tế và giá trị cảm xúc. Các thành phần này tác động tích cực đến ý định và hành vi chấp nhận sản phẩm mới. Thị trường tiêu dùng tại TP.HCM cho thấy người tiêu dùng có xu hướng ưa chuộng các sản phẩm mới mang lại giá trị cảm xúc và độc đáo. Điều này phù hợp với xu hướng tiêu dùng hiện đại, nơi người tiêu dùng không chỉ quan tâm đến chức năng mà còn đến trải nghiệm cá nhân.

1.1. Tác động của giá trị tiêu dùng

Giá trị tiêu dùng có tác động mạnh mẽ đến hành vi tiêu dùng. Nghiên cứu định lượng với 915 người tiêu dùng tại TP.HCM cho thấy giá trị chức năng và giá trị kinh tế là hai yếu tố được đánh giá cao nhất. Người tiêu dùng sẵn sàng chấp nhận sản phẩm mới nếu chúng mang lại lợi ích thiết thực và tiết kiệm chi phí. Sự đổi mới trong sản phẩm cũng được xem là yếu tố thúc đẩy hành vi chấp nhận, đặc biệt khi sản phẩm mới có tính năng vượt trội so với các sản phẩm hiện có.

1.2. Xu hướng tiêu dùng tại TP.HCM

Xu hướng tiêu dùng tại TP.HCM phản ánh sự thay đổi trong thái độ tiêu dùng. Người tiêu dùng tại đây có xu hướng ưa chuộng các sản phẩm công nghệ cao, đặc biệt là các thiết bị điện tử cá nhân. Nghiên cứu hành vi tiêu dùng cho thấy sự gia tăng nhu cầu về các sản phẩm mới, đặc biệt là trong nhóm người trẻ tuổi và tầng lớp trung lưu. Điều này tạo cơ hội lớn cho các doanh nghiệp trong việc giới thiệu và phát triển sản phẩm mới.

II. Tính đổi mới và hành vi chấp nhận sản phẩm mới

Tính đổi mới là yếu tố then chốt trong việc dự đoán hành vi chấp nhận sản phẩm mới. Nghiên cứu phân biệt giữa tính đổi mới bẩm sinhtính đổi mới theo sản phẩm. Trong đó, tính đổi mới theo sản phẩm có vai trò trung gian quan trọng trong mối quan hệ giữa tính đổi mới bẩm sinh và hành vi chấp nhận sản phẩm mới. Đổi mới sản phẩm không chỉ là yếu tố thúc đẩy ý định mà còn là động lực chính dẫn đến hành vi chấp nhận thực tế.

2.1. Tính đổi mới bẩm sinh

Tính đổi mới bẩm sinh phản ánh xu hướng tự nhiên của người tiêu dùng trong việc tìm kiếm và chấp nhận cái mới. Nghiên cứu cho thấy tính đổi mới bẩm sinh có tác động tích cực đến ý định chấp nhận sản phẩm mới. Tuy nhiên, tác động này không trực tiếp mà thông qua vai trò trung gian của tính đổi mới theo sản phẩm. Điều này cho thấy người tiêu dùng chỉ thực sự chấp nhận sản phẩm mới khi họ nhận thấy sự đổi mới đó phù hợp với nhu cầu cá nhân.

2.2. Tính đổi mới theo sản phẩm

Tính đổi mới theo sản phẩm là yếu tố quyết định trong việc dự đoán hành vi chấp nhận sản phẩm mới. Nghiên cứu chỉ ra rằng tính đổi mới theo sản phẩm có tác động mạnh mẽ đến cả ý định và hành vi chấp nhận. Tính năng sản phẩm mới được xem là yếu tố quan trọng, đặc biệt khi sản phẩm mang lại giá trị vượt trội so với các sản phẩm hiện có. Điều này khẳng định tầm quan trọng của việc liên tục đổi mới sản phẩm trong việc thu hút và giữ chân người tiêu dùng.

III. Ứng dụng thực tiễn và hàm ý quản trị

Nghiên cứu cung cấp nhiều hàm ý quản trị quan trọng cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản phẩm điện tử cá nhân tại TP.HCM. Giá trị tiêu dùngtính đổi mới là hai yếu tố chính cần được tập trung trong chiến lược phát triển sản phẩm mới. Doanh nghiệp cần chú trọng đến việc nâng cao giá trị cảm xúc và độc đáo của sản phẩm, đồng thời liên tục đổi mới để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng.

3.1. Chiến lược phát triển sản phẩm

Doanh nghiệp cần tập trung vào việc phát triển các tính năng sản phẩm mới mang lại giá trị vượt trội. Sự đổi mới trong sản phẩm không chỉ là yếu tố cạnh tranh mà còn là động lực thúc đẩy hành vi chấp nhận sản phẩm mới. Ngoài ra, việc tối ưu hóa giá trị kinh tế và chức năng của sản phẩm cũng là yếu tố quan trọng trong việc thu hút người tiêu dùng.

3.2. Định hướng thị trường

Thị trường tiêu dùng tại TP.HCM có tiềm năng lớn với sự gia tăng nhu cầu về các sản phẩm công nghệ cao. Doanh nghiệp cần nắm bắt xu hướng tiêu dùng và điều chỉnh chiến lược tiếp thị phù hợp. Việc tập trung vào nhóm người tiêu dùng trẻ tuổi và tầng lớp trung lưu sẽ mang lại hiệu quả cao trong việc giới thiệu và phát triển sản phẩm mới.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ tác động của giá trị tiêu dùng và tính đổi mới của người tiêu dùng đến hành vi chấp nhận sản phẩm mới thị trường tp hcm

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU 1. Sự cần thiết của nghiên cứu 1. Bối cảnh thực tiễn Với sự tiến bộ không ngừng của công nghệ, các sản phẩm liên quan đến yếu tố công nghệ thường có vòng đời sản phẩm ngắn hơn, vì thế buộc các doanh nghiệp trong lĩnh vực này đầu tư vào phát triển sản phẩm mới nhiều hơn, trong đó phải kể đến các sản phẩm hay thiết bị điện tử cá nhân (personal electronic devices).

Các thiết bị điện tử cá nhân là các sản phẩm điện tử được sở hữu bởi các cá nhân, thường được thiết kế nhỏ gọn, dễ dàng mang theo nhằm phục vụ cho nhu cầu của một cá nhân (từ điển Longman). Dù có nhiều loại sản phẩm khác nhau, các thiết bị di động (mobile devices) là phổ biến nhất với các sản phẩm như điện thoại thông minh (smartphone), máy tính bảng và các thiết bị đeo (Yang và cộng sự, 2016). Beard và Easingwood (1996) cho rằng thị trường các sản phẩm công nghệ có đặc điểm xoay vòng nhanh chóng, tốn kém chi phí và tiềm ẩn nhiều rủi ro cho doanh nghiệp. Nhóm sản phẩm điện tử cá nhân chịu sự tác động mạnh mẽ của công nghệ và thường được doanh nghiệp giới thiệu sản phẩm mới nhiều hơn so với các nhóm sản phẩm khác (Im và cộng sự, 2007; Chao và cộng sự, 2013).

Báo cáo của Price Waterhouse Coopers (2018) về hoạt động đổi mới doanh nghiệp toàn cầu cho thấy ngành hàng máy tính và thiết bị điện tử cá nhân là một trong ba nhóm dẫn dẫu về chi phí nghiên cứu và phát triển (R&D). Cũng theo báo cáo này, Samsung, Apple và Huawei là những hãng điện tử dẫn đầu về chi phí nghiên cứu và phát triển (R&D) năm 2018. Xét về mức độ tung sản phẩm mới, Samsung luôn duy trì vị thế dẫn đầu về số lượng sản phẩm mới được giới thiệu hàng năm, với trung bình là 26,5 thiết bị di động (Cecere và cộng sự, 2015). Báo cáo của Statista (2020) cho thấy doanh thu của ngành hàng điện tử toàn cầu dự kiến đến năm 2024 sẽ đạt 450,4 tỷ USD.

Trong khi đó, doanh thu ngành hàng điện tử tiêu dùng (consumer electronics) tại Việt Nam dự kiến đạt 1,388 tỷ USD vào năm 2020 và con số này là 2,115 tỷ USD vào năm 2024. Với tiềm năng lớn, thị trường các sản phẩm điện tử cá nhân tại Việt Nam có sự cạnh tranh rõ rệt giữa các thương hiệu 1 trong và ngoài nước với nhiều phân khúc khác nhau như Apple, Oppo, Samsung, Huawei, Xiaomi, Realme, Vivo. Đáng chú ý là trong những năm gần đây có gia nhập các thương hiệu Việt với sự kiện khởi đầu là tập đoàn Bkav giới thiệu sản phẩm điện thoại thông minh vào năm 2015 hay vào tháng 10/2019, VinSmart đã chính thức công bố tham gia thị trường với việc ra mắt 4 sản phẩm điện thoại thông minh mới nhất. Mặc dù vậy, thị phần các sản phẩm công nghệ cao nói chung và nhóm thiết bị điện tử cá nhân tại Việt Nam vẫn bị chiếm lĩnh bởi các thương hiệu nước ngoài.

Ví dụ với sản phẩm điện thoại thông minh, Samsung là thương hiệu dẫn đầu thị phần tại Việt Nam với 36,1%; Oppo đứng thứ hai với 22,5%; Vsmart nắm giữ 11,2% thị phần, còn lại là các thương hiệu khác (GfK, 2020, trích theo Anh Vũ, 2020). Với sản phẩm thiết bị đeo thông minh, Apple dẫn đầu thị phần với 23,7%; Xiaomi đứng thứ hai với 14%, còn lại là các thương hiệu Samsung, Huawei và Fitbit. Thị trường thiết bị đeo thông minh tại Việt Nam có sự tăng trưởng nổi bật với 33,5% vào năm 2020; giá trị thị trường ước đạt 65 triệu USD và được dự báo là thị trường có tiềm năng cao hơn so với các quốc gia cùng khu vực (Statista, 2020). Báo cáo của công ty nghiên cứu thị trường Neilsen (2016) khẳng định thị trường các nước đang phát triển được đánh giá là tiềm năng cho các sản phẩm mới, 78% người Việt thích được trải nghiệm các sản phẩm mới do sự gia tăng về dân số trẻ, thuộc tầng lớp trung lưu và mong muốn sở hữu hàng hiệu.

Năm 2020, dù có nhiều khó khăn về kinh tế trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19, người Việt vẫn sẵn sàng chi tiêu tiền nhàn rỗi cho sản phẩm công nghệ mới với 37%, chiếm vị trí thứ ba trong nhóm danh sách chi tiêu của người Việt, do khoảng thời gian này người Việt có nhiều thời gian ở nhà hơn cũng như sản phẩm công nghệ đóng một vai trò thiết yếu trong mọi thứ như giáo dục, việc làm và giải trí (Nielsen, 2020). Tuy nhiên, báo cáo của Neilsen (2020) cũng nhấn mạnh hành vi và đặc điểm tiêu dùng tại thị trường Việt Nam rất khác biệt so với các thị trường phát triển về các yếu tố như nhu cầu, tiêu chuẩn và kỳ vọng. Do đó, việc thấu hiểu hành vi người tiêu dùng Việt Nam với một sản phẩm mới là rất cần thiết. Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) là trung tâm kinh tế, thành phố công nghiệp phát triển; đặc biệt lĩnh vực công nghiệp có đóng góp đáng kể vào sự phát triển của 2 vùng kinh tế trọng điểm phía Nam cũng như cả nước, góp phần thúc đẩy chuyển dịch kinh tế quốc gia theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Nghị quyết số 16-NQ/TW ngày 10/8/2012 của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển TP.HCM đến năm 2020 và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ TP.HCM lần thứ IX (nhiệm kỳ 2010- 2015) xác định thành phố tập trung phát triển bốn ngành công nghiệp trọng yếu có hàm lượng khoa học - công nghệ và giá trị gia tăng cao bao gồm cơ khí, điện tử - công nghệ thông tin, hóa dược - cao su, chế biến tinh lương thực thực phẩm. Để hỗ trợ các ngành công nghiệp trọng yếu, TP.HCM đã ban hành nhiều chính sách và triển khai nhiều chương trình hỗ trợ doanh nghiệp như tạo cầu nối gắn kết doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ với doanh nghiệp sản xuất; thu hút đầu tư có chọn lọc vào các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn và xây dựng cụm liên kết sản xuất. Với sức hấp dẫn từ thị trường, ngành công nghiệp điện tử có sức hút mạnh mẽ với các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Theo báo cáo của Cục Thống kê TP.

Chỉ số sản xuất công nghiệp lũy kế 5 tháng đầu năm 2020 tăng hơn 4,5 điểm phần trăm so với chỉ số sản xuất chung của toàn ngành công nghiệp, trong đó hai ngành có chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ gồm ngành hóa dược tăng 8,4% và sản xuất điện tử tăng 11,8%. Tính đến năm 2020, chỉ số sản xuất công nghiệp ngành hàng điện tử của TP.HCM tương đối đồng đều qua các năm và đạt mức tăng trưởng cao nhất vào năm 2017.1: Chỉ số sản xuất công nghiệp ngành hàng điện tử qua các năm Đơn vị: % Địa bàn 2015 2016 2017 2018 2019 2020 TP.HCM 106,25 108,83 138,58 114,74 120,7 118,7 Cả nước 137,0 112,8 132,7 111,3 106,6 112,0 Nguồn: Cục thống kê TP.HCM (2020) Kết quả của việc chuyển đổi kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng của Việt Nam đã mở ra cho ngành công nghiệp Việt Nam và TP.HCM nói riêng nhiều cơ hội, đặc biệt trong thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực công nghệ cao và công nghiệp điện tử. Hãng điện tử Samsung được đánh giá là nhà đầu tư số 3 một tại Việt Nam với ba nhà máy hiện có tại các tỉnh thành là Bắc Ninh, Thái Nguyên và TP. Bên cạnh đó, rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài đang có xu hướng chuyển dịch hướng đầu tư từ các quốc gia khác sang thị trường Việt Nam trong lĩnh vực sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học.

Thị trường TP.HCM cũng được đánh giá là thị trường năng động nhất cả nước, với dân số trẻ, hội tụ đa dạng các vùng miền văn hóa do tăng trưởng dân số cơ học, là thị trường tiềm năng cho các doanh nghiệp giới thiệu các sản phẩm điện tử cá nhân. Cùng với sự thay đổi trong hành vi tiêu dùng, sự tiến bộ của công nghệ vừa là cơ hội lớn nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức cho các nhà sản xuất kinh doanh các thiết bị điện tử cá nhân trong bối cảnh cạnh tranh, vì thế nghiên cứu về chấp nhận sản phẩm điện tử cá nhân mới có ý nghĩa thiết thực tại thị trường mới nổi và đầy tiềm năng như Việt Nam nói chung và TP. Bối cảnh lý thuyết Sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ khiến cho các sản phẩm nhanh chóng bị lỗi thời, vì vậy các doanh nghiệp nỗ lực nâng cao lợi thế cạnh tranh của mình bằng việc phát triển các sản phẩm mới (Beard và Easingwood, 1996). Các doanh nghiệp dựa vào thành công của sản phẩm mới để có thể tồn tại và duy trì vị thế cạnh tranh trên thị trường thông qua lợi nhuận đạt được (Singh, 2006).

Nhiều nhà nghiên cứu cũng chỉ ra rằng phát triển sản phẩm mới có vai trò quan trọng với doanh nghiệp, tuy nhiên đó là một quá trình đầy thách thức, rủi ro và tốn kém (Golder và Tellis, 1993; Gielens và Steenkamp, 2007). Thống kê của Gourville (2006) cho thấy tỷ lệ thất bại của một sản phẩm mới vào khoảng 40%-90%, còn báo cáo của nhiều doanh nghiệp cho thấy tỷ lệ này là 50% hoặc cao hơn (Schnurr, 2005). Roehrich (2004) cho rằng cần các nghiên cứu cần tìm hiểu về các yếu tố quyết định đến sự thành công của sản phẩm mới. Thành công của sản phẩm mới trong năm đầu tiên sẽ tạo tiền đề và triển vọng phát triển của sản phẩm cho các năm tiếp theo (Yoon và Lilien, 1985).

Thành công của một sản phẩm mới có thể được đo lường theo nhiều tiêu chí khác nhau nhưng thước đo quan trọng nhất là sự chấp nhận sản phẩm mới của người tiêu dùng (Hauser và cộng sự, 2006), thành công của sản phẩm mới cũng phụ thuộc 4 hoàn toàn vào sự chấp nhận của khách hàng mục tiêu (Arts và cộng sự, 2011). Rogers (2003) cho rằng việc chấp nhận một ý tưởng hay sản phẩm mới là một quyết định khó khăn của người tiêu dùng. Mặc dù các nhà sản xuất kỳ vọng các sản phẩm mới sẽ mang lại nhiều lợi ích nhưng nhiều sản phẩm mới bị thất bại hoặc tốn rất nhiều thời gian để được thị trường chấp nhận (Gourville, 2006). Ví dụ, thiết bị đầu máy video (video cassette recorders - VCRs) tối thiểu mất mười năm mới có mặt trong phòng khách của người tiêu dùng (Putsis, 1989) hoặc đến mười tám năm thiết bị lò vi sóng mới được thị trường Hi Lạp chấp nhận (Tellis và cộng sự, 2003).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Tác động của giá trị tiêu dùng và tính đổi mới đến hành vi chấp nhận sản phẩm mới tại TP.HCM" nghiên cứu sâu về cách giá trị tiêu dùng và yếu tố đổi mới ảnh hưởng đến quyết định chấp nhận sản phẩm mới của người tiêu dùng tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nó cung cấp những hiểu biết quan trọng về tâm lý khách hàng, giúp doanh nghiệp xây dựng chiến lược tiếp thị hiệu quả hơn. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và sinh viên quan tâm đến hành vi tiêu dùng và sự đổi mới trong kinh doanh.

Để mở rộng kiến thức về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tiêu dùng, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh những nhân tố tác động đến ý định tiêu dùng xanh của người tiêu dùng trên địa bàn thành phố đà lạt, nghiên cứu về xu hướng tiêu dùng bền vững. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua rau an toàn của người tiêu dùng tại thành phố bà rịa cung cấp góc nhìn chi tiết về quyết định mua hàng dựa trên yếu tố an toàn. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng cá nhân tại ngân hàng tmcp đầu tư và phát triển việt nam chi nhánh bà rịa sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về hành vi sử dụng dịch vụ tài chính. Mỗi tài liệu này là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn về các khía cạnh khác nhau của hành vi tiêu dùng.