MỞ ĐẦU 1. Bối cảnh nghiên cứu và ý nghĩa nghiên cứu.1 Bối cảnh nghiên cứu: Bƣớc sang thế kỷ 21, xu thế quốc tế hóa ngày càng mạnh mẽ, phân công lao động ngày càng sâu sắc, hầu hết các quốc gia đều mở cửa nền kinh tế để tận dụng triệt để hiệu quả của xu thế này. Việt Nam đang trong giai đoạn đầu của quá trình chuyển dịch công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Việt Nam đang tham gia vào các tổ chức kinh tế nhƣ ASEAN và WTO.
Theo điều khoản của các hiệp định thƣơng mại này, Việt Nam phải mở cửa cho nƣớc ngoài đầu tƣ vào một số ngành nhất định do đó các doanh nghiệp nƣớc ngoài và nội địa đang phải cạnh tranh khốc liệt với nhau. Từ năm 1987 đến nay, chính phủ Việt Nam mở cửa cho đầu từ nƣớc ngoài tạo ra những đóng góp tích cực và ấn tƣợng trên nhiều mặt trong tiến trình hội nhập và phát triển kinh tế - xã hội theo từng thời kỳ phát triển của đất nƣớc. Trong quá trình này, thông qua việc sử dụng vốn nƣớc ngoài đã dẫn tới sự chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp.2 Ý nghĩa nghiên cứu. Nghiên cứu đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài để thúc đẩy tối ƣu hóa và nâng cấp cơ cấu ngành công nghiệp có hai ý nghĩa: Thứ nhất, thông qua phân tích lý thuyết và thực nghiệm trên thực tế: Lý thuyết về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài FDI và thực trạng của cơ cấu ngành công nghiệp Việt Nam hiện nay nhằm tổng hợp các lý thuyết khác nhau và tối ƣu hóa và nâng cấp một số lý thuyết của FDI.
Thứ hai, Việt Nam hiện có dòng vốn đầu tƣ từ nƣớc ngoài tăng nhanh qua các năm đồng thời giá trị xuất khẩu đang có xu hƣớng nghiêng mạnh về khu vực FDI. Dẫn đến quan ngại liệu việc tập trung FDI có thể đƣợc sử dụng để thúc đẩy tối ƣu hóa và nâng cấp cơ cấu ngành công nghiệp, qua đó thúc đẩy nền kinh tế. Phát triển cân bằng là một hƣớng đi tốt cho các nƣớc đang phát triển và cùng với nền kinh tế mở cửa, Việt Nam nên tập trung vào các 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com yếu tố đầu tƣ cần thiết để nâng cấp cơ cấu công nghiệp và đầu tƣ ra nƣớc ngoài. Việc đầu tƣ hợp lý giúp tạo bƣớc nhảy vọt liên tục của nền kinh tế Việt Nam.3 Lí do chọn đề tài Bƣớc sang thế ký 21 xu thế quốc tế hóa ngày càng mạnh mẽ phân công lao động ngày càng sâu sắc hầu hết các quốc gia đều mở cửa nền kinh tế để tận dụng triệt để hiệu quả lợi thế.
Việt Nam đang trong giai đoạn đầu của quá trình thực hiện công nghiệp háo hiện đại hóa. Việt Nam đang thao gia các tổ chức kinh tế nhƣ ASEAN và WTO. Theo điều khoản của các hiệp định thƣơng mại, Việt Nam phải mở cửa cho nƣớc ngoài đầu tƣ vào một số ngành nhất định. Các doanh nghiệp nƣớc ngoài và nội địa đã cạnh tranh với nhau rất khốc liệt.
Nhà nƣớc muốn chuyển đổi cơ cấu kinh tế và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc. Từ năm 1986 đến nay, chính phủ Việt Nam mở cửa cho nƣớc ngoài đầu từ vào nƣớc ta, đầu tƣ nƣớc ngoài đã có những đóng góp tích cực và ấn tƣợng trên nhiều mặt trong tiến trình hội nhập và phát triển kinh tế - xã hội theo từng thời kỳ phát triển của đất nƣớc. Trong quá trình này, thông qua việc sử dụng vốn nƣớc ngoài để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Cho nên em chọn đề tài: “Tác động của đầu tƣ nƣớc ngoài đối với cơ cấu ngành kinh tế Việt Nam”.
Cở sở lý luận nghiên cứu về ảnh hƣởng của đầu tƣ nƣớc ngoài đối với cơ cấu ngành công nghiệp Việt Nam trong và ngoài nƣớc.1 Các kênh tác động FDI tác động tới tăng trƣởng kinh tế thông qua nhiều kênh khác nhau. Theo cách tiếp cận hẹp, tác động đối với tăng trƣởng của FDI thƣờng đƣợc thông qua kênh đầu tƣ và gián tiếp thông qua các tác động tràn. Theo cách tiếp cận rộng, FDI gây áp lực buộc nƣớc sở tại phải nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia mà trƣớc hết là cải thiện môi trƣờng đầu tƣ, qua đó làm giảm 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chi phí giao dịch cho các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài, tăng hiệu suất của vốn và rốt cuộc là tác động tích cực tới tăng trƣởng kinh tế. Một số ý kiến còn cho rằng FDI có thể làm tăng đầu tƣ trong nƣớc thông qua tăng đầu tƣ của các doanh nghiệp trong nƣớc, đặc biệt là những doanh nghiệp trong nƣớc cung cấp nguyên liệu cho doanh nghiệp FDI họăc tiêu thụ sản phẩm từ các doanh nghiệp FDI.
Đồng thời, các chính sách cải thiện cơ sở hạ tầng của chính phủ nhằm thu hút nhiều vốn FDI hơn cũng thúc đẩy các doanh nghiệp trong nƣớc hình thành và phát triển. Trái lại cũng có một số ý kiến lo ngại về tác động tiêu cực của FDI tới tăng trƣởng kinh tế, cho rằng sự xuất hiện của doanh nghiệp có vốn FDI có thể gây cạnh tranh khốc liệt với các doanh nghiệp trong nƣớc mà phần thua thiệt thƣờng là các doanh nghiệp trong nƣớc. Các doanh nghiệp trong nƣớc bị mất thị trƣờng, mất lao động có kỹ năng và vì vậy có thể dẫn đến phá sản. Ngoài ra, vốn FDI có thể làm cho đầu tƣ trong nƣớc bị thu hẹp do nhiều doanh nghiệp bị mất cơ hội đầu tƣ họăc đầu tƣ không hiệu quả do trình độ công nghệ thấp kém, vốn ít.
Điều này xảy ra khi xuất hiện tác động lấn át đầu tƣ của doanh nghiệp FDI. Nghiên cứu này chỉ tập trung phân tích tác động của FDI tới tăng trƣởng theo cách tiếp cận hẹp, dựa vào khung khổ phân tích đã đƣợc vận dụng trên thế giới. Các tác động trực tiếp của FDI tới tăng trƣởng thƣờng đƣợc truyền qua kênh đầu tƣ và có thể ƣớc lƣợng bằng cách sử dụng mô hình tăng trƣởng ở cấp vĩ mô. Trái lại, tác động gián tiếp trong đó có tác động tràn có thể đƣợc xem xét ở cả tầm vĩ mô và vi mô.
Trên thực tế, việc đánh giá tác động tràn ở tầm vi mô rất có ý nghĩa cho hoạch định chính sách nên đƣợc quan tâm nhiều hơn. Ở tầm vi mô hay cấp độ doanh nghiệp, việc đánh giá loại tác động này đòi hỏi phải xem xét ít nhất hai khía cạnh: thứ nhất là xác định các kênh tác động và cơ chế truyền tác động và thứ hai là đánh giá mức độ của các tác động này. Phần tiếp theo sẽ trình bày sâu hơn phƣơng pháp luận để đánh giá 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com các tác động của FDI tới tăng trƣởng thông qua kênh đầu tƣ ở tầm vĩ mô và thông qua tác động tràn ở cấp vi mô.2 Cơ sở lý thuyết về tác động của FDI tới tăng trưởng thông qua kênh đầu tư Để nghiên cứu mối quan hệ giữa FDI và tăng trƣởng kinh tế, cũng nhƣ đánh giá đƣợc tác động của nó, phần này trình bày một khung khổ lý thuyết sử dụng mô hình tăng trƣởng nội sinh 25. Trong mô hình này Y là sản phẩm đầu ra của nền kinh tế đƣợc tạo ra bởi khu vực sản xuất sản phẩm cuối cùng bằng công nghệ sản xuất tổng quát, sử dụng các yếu tố đầu vào là vốn vật chất.
Lập luận trên đây cũng có nghĩa là, đối với nƣớc nghèo thì việc sản xuất một loại hàng hoá vốn30 đã có là rẻ hơn so với sản xuất một loại hàng hoá vốn chƣa hề có trên thị trƣờng thế giới. Ngoài ra, chi phí cố định ban đầu để quá trình phổ biến tiến bộ công nghệ diễn ra còn phụ thuộc vào mức chênh lệch về số lƣợng và chất lƣợng của hàng hoá vốn đƣợc sản xuất trong nƣớc so với hàng hoá vốn đƣợc sản xuất ở nƣớc ngoài. Thông thƣờng, mức độ chênh lệch này tỷ lệ thuận với chi phí cố định để áp dụng công nghệ. Tức là chi phí cố định để áp dụng công nghệ sẽ cao hơn đối với nƣớc sản xuất ít hàng hoá vốn hơn hay chi phí để cải tiến một hàng hoá vốn có hàm lƣợng chất xám cao hơn sẽ đắt hơn chi phí cải tiến một loại hàng có hàm lƣợng chất xám thấp hơn.
Nhƣ vậy, nếu xảy ra tác động “bắt kịp” về công nghệ thì chi phí cố định để áp dụng công nghệ thông qua các công ty nƣớc ngoài sẽ giảm đi khi số lƣợng hàng hoá vốn đƣợc sản xuất trong nƣớc tăng lên. Tăng trƣởng của một nền kinh tế đƣợc xác định bởi nhiều yếu tố khác nhau. Song, điều quan trọng nhất rút ra từ mô hình là tồn tại mối quan hệ trực tiếp giữa FDI và tăng trƣởng kinh tế. Thông qua FDI, không những nhiều hàng hoá vốn mới đƣợc tạo ra (tăng tài sản vốn vật chất của nền kinh tế) mà chi phí để sản xuất ra chúng còn giảm đi, qua đó tác động tích cực tới tăng 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trƣởng kinh tế.
Ngoài ra, tốc độ tăng trƣởng còn tỷ lệ nghịch với mức chênh lệch về công nghệ- trong bài này đƣợc đo bằng tỷ lệ giữa số hàng hoá vốn mới sản xuất trong nƣớc và hàng hoá vốn sản xuất ở các nƣớc phát triển- giữa nƣớc nhận FDI và các nƣớc phát triển. Tác động này biểu thị cho hiện tƣợng “bắt kịp” về tăng trƣởng kinh tế của nƣớc nghèo hơn so với nƣớc giàu hơn. Các tác động trên đây là lý do khiến tất cả các nƣớc đều rất nỗ lực thu hút nguồn vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài, nhất là các nƣớc nghèo và mô hình ở 1 là cơ sở lý thuyết để đánh giá tác động của FDI tới tăng trƣởng kinh tế ở tầm vĩ mô. Do đóng góp của FDI tới tăng trƣởng đối với các nƣớc đang phát triển là rất có ý nghĩa nên các nhà phân tích cũng hay quan tâm tới việc xác định các yếu tố tác động đến thu hút và thực hiện dòng vốn này.
Vấn đề này sẽ đƣợc xem xét cụ thể trong phần phân tích định lƣợng nhằm bổ sung cho mục tiêu chính mà đề tài đã đƣa ra ban đầu.3 Cơ chế sinh ra tác động tràn Bên cạnh tác động trực tiếp tới tăng trƣởng của cả nền kinh tế, sự có mặt của các doanh nghiệp FDI còn tác động gián tiếp tới các doanh nghiệp trong nƣớc nhƣ tăng áp lực cạnh tranh, buộc các doanh nghiệp trong nƣớc phải tăng hiệu quả kinh doanh, thúc đẩy quá trình phổ biến và chuyển giao công nghệ v. Các tác động này còn đƣợc gọi là tác động tràn của FDI.