Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Xuất khẩu lao động (XKLĐ) là một nội dung trọng tâm trong Chương trình mục tiêu quốc gia về giải quyết việc làm, đồng thời là hoạt động kinh tế - xã hội quan trọng nhằm phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tại các quốc gia đang phát triển có tỷ lệ tăng dân số cao, việc giải quyết việc làm cho lực lượng bước vào độ tuổi lao động luôn đặt ra áp lực lớn đối với nền kinh tế. Ở Việt Nam, khu vực nông thôn chiếm 64% dân số và 70,2% lực lượng lao động cả nước (theo số liệu Tổng cục Thống kê năm 2017). Di cư lao động quốc tế trở thành một chiến lược sinh kế thiết yếu của các hộ gia đình nông dân nhằm tìm kiếm nguồn tài chính ngoài nông nghiệp. Theo thống kê của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội năm 2020, Việt Nam có 54.307 lao động đi làm việc ở nước ngoài (trong đó có 20.107 lao động nữ), tập trung tại các thị trường chủ lực như Nhật Bản (27.151 người), Đài Loan (23.403 người), Hàn Quốc (1.077 người) và một số quốc gia khác. Nguồn ngoại tệ chuyển về nước đóng góp đáng kể cho nền kinh tế (năm 2006 đạt 4,8 tỷ USD, tương đương 8% GDP quốc gia) và chiếm từ 60% đến 70% tổng thu nhập tiền mặt của các hộ gia đình có người di cư (Đặng Nguyên Anh, 2005).

Thị trấn Yên Phú là trung tâm kinh tế - chính trị của huyện miền núi Bắc Mê, tỉnh Hà Giang, có tổng diện tích tự nhiên 7.006,08 ha với địa hình đồi núi chia cắt phức tạp. Dân số thị trấn có 1.230 nhân khẩu thuộc 14 thành phần dân tộc cùng sinh sống (gồm Tày, Dao, Kinh, Mông, Pu Péo, Mường, Nùng, Cao Lan, Giấy, Bố Y, Hoa, Pà Thẻn, Lô Lô, Ngái, La Chí), phân bố trên 17 đơn vị hành chính cơ sở (12 thôn và 5 tổ dân phố). Do quỹ đất nông nghiệp hạn chế và thiếu việc làm phi nông nghiệp tại chỗ, người dân Yên Phú chủ yếu làm nông nghiệp kết hợp đi làm ăn xa tại các khu công nghiệp nội địa hoặc tham gia xuất khẩu lao động (với hơn 80 hộ có thành viên đi làm việc ở nước ngoài, chủ yếu sang Hàn Quốc và Nhật Bản). Việc tham gia XKLĐ đòi hỏi khoản chi phí ban đầu rất lớn đối với người dân miền núi, đồng thời chịu tác động trực tiếp từ các biến cố khách quan như dịch bệnh toàn cầu. Xuất phát từ bối cảnh thực tiễn này, khóa luận đi sâu nghiên cứu đề tài: "Ảnh hưởng của xuất khẩu lao động đối với đời sống vật chất của hộ gia đình (Nghiên cứu trường hợp tại thị trấn Yên Phú, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang)".

Mục tiêu nghiên cứu:

  • Mục tiêu chung: Phân tích làm rõ ảnh hưởng của xuất khẩu lao động đối với đời sống vật chất của hộ gia đình tại thị trấn Yên Phú, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Tìm hiểu đặc điểm của người đi xuất khẩu lao động và tình hình tiền gửi về thông qua các hộ gia đình có người đi xuất khẩu lao động được điều tra tại thị trấn Yên Phú, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang.
    2. Tìm hiểu ảnh hưởng của xuất khẩu lao động đối với thu nhập và chi tiêu của hộ gia đình có người đi XKLĐ được điều tra tại thị trấn Yên Phú, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang.
    3. Tìm hiểu ảnh hưởng của xuất khẩu lao động đối với điều kiện sinh hoạt của hộ gia đình có người đi XKLĐ được điều tra tại thị trấn Yên Phú, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang.

Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Ảnh hưởng của xuất khẩu lao động đối với đời sống vật chất của hộ gia đình có người đi XKLĐ.
  • Khách thể nghiên cứu: Những hộ gia đình có thành viên đi xuất khẩu lao động từ 3 năm trở lên tại thị trấn Yên Phú, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang, đặt trong mối tương quan so sánh với các hộ không có người đi XKLĐ.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Không gian: Địa bàn thị trấn Yên Phú, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang.
    • Thời gian: Thu thập thông tin thứ cấp từ năm 2009 đến năm 2021; dữ liệu thực địa sơ cấp được khảo sát trong năm 2021.
    • Nội dung: Tập trung vào các chỉ báo đo lường đời sống vật chất gồm thu nhập, chi tiêu và điều kiện sinh hoạt (nhà ở, trang thiết bị gia đình, phương tiện đi lại), không đi sâu vào các khía cạnh tâm lý hay đời sống tinh thần.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận vận dụng hai khung lý thuyết nền tảng của xã hội học về di dân và thiết chế gia đình:

  • Lý thuyết Hút – Đẩy (Push – Pull Theory) của Everett S. Lee: Giải thích quyết định di cư dựa trên sự tương tác giữa 4 nhóm nhân tố: các yếu tố đẩy tại nơi ở gốc (thu nhập thấp, thiếu việc làm, điều kiện kinh tế khó khăn tại Yên Phú); các yếu tố hút tại nơi đến (cơ hội việc làm dồi dào, mức lương cao tại Hàn Quốc, Nhật Bản); các trở ngại can thiệp (chi phí xuất cảnh cao, khoảng cách địa lý, rào cản ngôn ngữ, yêu cầu pháp lý); và các yếu tố cá nhân của người di cư (tuổi tác, giới tính, học vấn, tình trạng hôn nhân).
  • Lý thuyết Cấu trúc – Chức năng (Structural Functionalism): Với các đại diện tiêu biểu như Auguste Comte, Émile Durkheim, Herbert Spencer, A.R. Radcliffe-Brown. Lý thuyết nhìn nhận gia đình là một tiểu hệ thống gồm các bộ phận liên kết hữu cơ nhằm duy trì sự cân bằng, ổn định và thực hiện các chức năng sống còn. Trong đó, di cư lao động được xem là một cơ chế phân công vai trò nhằm thực hiện chức năng kinh tế của hộ gia đình, giúp gia đình nông thôn thích ứng và tái lập thế cân bằng sinh kế trước các khó khăn nội tại.

Các khái niệm công cụ được xác định bao gồm: Khái niệm "Xuất khẩu lao động" theo định nghĩa của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO); Khái niệm "Gia đình" và "Hộ gia đình" theo góc độ xã hội học và pháp lý; Khái niệm "Đời sống vật chất" (theo tiếp cận của Nguyễn Thị Thanh, 2015), được thao tác hóa thông qua các chỉ báo định lượng: nguồn thu nhập chính, mức chi tiêu cho các nhu cầu thiết yếu, điều kiện nhà ở, tiện nghi sinh hoạt và phương tiện giao thông.

Phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp: Kế thừa các báo cáo kinh tế - xã hội định kỳ của UBND thị trấn Yên Phú (năm 2019), các tài liệu thống kê của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Tổng cục Thống kê, cùng các công trình nghiên cứu xã hội học trong và ngoài nước về di cư và tiền gửi kiều hối từ năm 2009 đến nay.
  • Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp:
    • Điều tra bằng bảng hỏi cấu trúc: Thực hiện trên cỡ mẫu 60 hộ gia đình tại thị trấn Yên Phú, chia thành 2 nhóm đồng đều: 30 hộ có người đi XKLĐ từ 3 năm trở lên và 30 hộ không có người đi XKLĐ (đóng vai trò nhóm đối chứng) nhằm thu thập số liệu so sánh về kinh tế và điều kiện sinh hoạt.
    • Phương pháp phỏng vấn sâu (PVS): Thực hiện 10 cuộc phỏng vấn sâu nhằm thu thập thông tin định tính, bao gồm: 01 cán bộ phụ trách Lao động - Thương binh và Xã hội thị trấn Yên Phú; 01 cán bộ thôn/xóm; 08 đại diện hộ gia đình (04 hộ có người đi XKLĐ và 04 hộ không có người đi XKLĐ).
  • Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu: Dữ liệu định lượng từ bảng hỏi được làm sạch, mã hóa và xử lý bằng phần mềm thống kê chuyên ngành SPSS. Dữ liệu định tính được phân tích từ biên bản phỏng vấn sâu và nhật ký thực địa theo khung phân tích đã xác định.

Nội dung chính theo từng chương của khóa luận

Phần 1: Giới thiệu

Nội dung phần này xác lập tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh di cư lao động tại các huyện vùng cao; trình bày hệ thống mục tiêu nghiên cứu (mục tiêu chung và 3 mục tiêu cụ thể); xác định đối tượng nghiên cứu (ảnh hưởng của XKLĐ đến đời sống vật chất), khách thể khảo sát (các hộ có người đi XKLĐ từ 3 năm trở lên cùng nhóm đối chứng); giới hạn phạm vi nghiên cứu về không gian tại thị trấn Yên Phú, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang và phạm vi thời gian thu thập dữ liệu.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương tổng quan hệ thống hóa hai lý thuyết nền tảng: Lý thuyết Hút - Đẩy của Everett S. Lee và Lý thuyết Cấu trúc - Chức năng. Tác giả tổng thuật các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế theo ba nhóm chủ đề: tình hình xuất khẩu lao động tại Việt Nam; đời sống kinh tế - xã hội của các hộ gia đình có người đi XKLĐ; dòng kiều hối và cách thức sử dụng tiền gửi của người di cư. Đồng thời, chương này chuẩn hóa định nghĩa các khái niệm công cụ phục vụ việc thiết kế bộ chỉ báo khảo sát.

Phần 3: Phương pháp nghiên cứu

Trình bày cơ sở lựa chọn thị trấn Yên Phú làm điểm nghiên cứu dựa trên đặc thù địa hình chia cắt, thành phần dân tộc đa dạng (14 dân tộc) và thực trạng có trên 80 hộ gia đình tham gia XKLĐ. Tác giả mô tả chi tiết phương pháp chọn mẫu khảo sát 60 hộ dân, thiết kế khung phỏng vấn sâu 10 trường hợp, quy trình xử lý dữ liệu qua phần mềm SPSS và xây dựng khung phân tích so sánh giữa nhóm hộ có người đi XKLĐ và nhóm hộ không có người đi XKLĐ dưới tác động của biến cố dịch Covid-19.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu

Đây là chương nội dung trọng tâm của khóa luận, trình bày toàn bộ phát hiện thực nghiệm thông qua các số liệu thống kê và trích dẫn phỏng vấn sâu:

1. Đặc điểm nhân khẩu và hành trình xuất cảnh của người đi XKLĐ: Khảo sát trên 30 hộ có người đi XKLĐ cho thấy các đặc trưng nhân khẩu học rõ rệt: nam giới chiếm đa số với 70,0% (21 người), trong khi nữ giới chiếm 30,0% (9 người). Độ tuổi lao động tập trung cao nhất ở nhóm trẻ từ 20 đến dưới 30 tuổi (chiếm 60,0%), nhóm từ 30 đến dưới 40 tuổi chiếm 33,3%, và nhóm từ 40 đến dưới 50 tuổi chỉ chiếm 6,7%. Về trình độ học vấn, đa số đã tốt nghiệp THPT (76,7%), người có trình độ THCS chiếm 13,3% (4 người, tất cả đều sang thị trường Nhật Bản do tiêu chuẩn nới lỏng theo đơn hàng), và tốt nghiệp CĐ/ĐH chiếm 10,0%. Tình trạng hôn nhân chủ yếu là chưa có vợ/chồng (66,7%), trong khi người đã có gia đình chiếm 33,3%.

Trước khi xuất cảnh, nhóm học sinh/sinh viên chiếm tỷ lệ cao nhất (60,0%), tiếp theo là lao động tự do phổ thông (20,0%), nông dân (10,0%) và công nhân (10,0%). Khi sang nước tiếp nhận, cơ cấu công việc chuyển đổi mạnh mẽ sang lĩnh vực công nghiệp: 70,0% làm công nhân (xây dựng, cơ khí, đóng tàu, nhà máy) và 30,0% làm nông nghiệp (thu hoạch hoa màu, làm vườn, chăn nuôi). Hai thị trường tiếp nhận toàn bộ lao động trong mẫu khảo sát là Hàn Quốc (56,7%) và Nhật Bản (43,3%), không ghi nhận lao động tại thị trường Đài Loan. Về thời gian lưu trú, 56,7% người lao động đã đi được 3 năm, 16,7% đi 4 năm, 16,7% đi 5 năm, 6,6% đi 6 năm và 3,3% đi 7 năm.

Chỉ báo nhân khẩu - nghề nghiệp Phân loại Tần số (N=30) Tỷ lệ (%)
Giới tính Nam 21 70,0
Nữ 9 30,0
Độ tuổi Từ 20 đến dưới 30 tuổi 18 60,0
Từ 30 đến dưới 40 tuổi 10 33,3
Từ 40 đến dưới 50 tuổi 2 6,7
Trình độ học vấn THCS 4 13,3
THPT 23 76,7
Cao đẳng / Đại học 3 10,0
Tình trạng hôn nhân Chưa có vợ / chồng 20 66,7
Đã có vợ / chồng 10 33,3
Nghề nghiệp trước khi đi Học sinh / sinh viên 18 60,0
Lao động tự do phổ thông 6 20,0
Nông dân 3 10,0
Công nhân 3 10,0
Nghề nghiệp tại nơi đến Công nhân 21 70,0
Nông dân 9 30,0
Thị trường tiếp nhận Hàn Quốc 17 56,7
Nhật Bản 13 43,3

2. Chi phí xuất cảnh và nguồn huy động vốn: Khoản kinh phí để đi XKLĐ tương đối lớn so với điều kiện kinh tế miền núi: 90,0% số hộ phải chi trả từ 200 đến dưới 300 triệu đồng, và 10,0% số hộ phải chi từ 300 triệu đồng trở lên; không có trường hợp nào dưới 200 triệu đồng. Để trang trải chi phí này, 100% hộ gia đình phải vay vốn ngân hàng và 100% hộ phải vay mượn thêm từ người thân, họ hàng; bên cạnh đó, 73,3% hộ có sử dụng một phần tích lũy của gia đình và 60,0% vay thêm từ bạn bè.

Khoản mục chi phí và nguồn vốn Tiêu chí chi tiết Số hộ / Lượt chọn Tỷ lệ (%)
Mức chi phí đi XKLĐ (N=30) Từ 200 đến dưới 300 triệu đồng 27 90,0
Từ 300 triệu đồng trở lên 3 10,0
Nguồn vốn huy động (N=30, đa lựa chọn) Vay ngân hàng 30 100,0
Vay người thân, họ hàng 30 100,0
Tự tích lũy của gia đình 22 73,3
Vay bạn bè 18 60,0

3. Tình hình kiều hối và sự biến động do dịch bệnh Covid-19: Toàn bộ 100% hộ có người đi XKLĐ đều nhận được tiền gửi về từ nước ngoài, và 100% giao dịch gửi tiền đều thực hiện qua hệ thống ngân hàng chính thức (thẻ ATM/tài khoản ngân hàng), không thông qua môi giới hay gửi tay. Tuy nhiên, đại dịch Covid-19 đã làm gián đoạn việc làm và sụt giảm đáng kể nguồn tiền gửi:

  • Mức tiền gửi trung bình 1 năm: Trước dịch Covid-19, 90,0% số hộ nhận được từ 100 đến dưới 150 triệu đồng/năm, và 10,0% nhận từ 150 triệu đồng trở lên. Sau khi dịch bùng phát, mức gửi phổ biến giảm xuống nhóm 50 đến dưới 100 triệu đồng/năm (chiếm 86,7%), chỉ còn 13,3% số hộ duy trì được mức 100 đến dưới 150 triệu đồng/năm.
  • Tần suất gửi tiền: Trước dịch, 100% người lao động gửi tiền đều đặn 1 tháng/lần. Sau dịch bệnh, do bị giảm giờ làm hoặc nghỉ dịch, tần suất gửi định kỳ 1 tháng/lần giảm mạnh xuống còn 13,3%, trong khi 86,7% phải dồn 3 đến 4 tháng mới gửi tiền về một lần.
Chỉ báo tiền gửi kiều hối Phân loại mức độ Trước dịch Covid-19 Sau khi có dịch Covid-19
Mức tiền gửi trung bình / năm Dưới 50 triệu đồng 0,0% 0,0%
Từ 50 đến dưới 100 triệu đồng 0,0% 86,7% (26 hộ)
Từ 100 đến dưới 150 triệu đồng 90,0% (27 hộ) 13,3% (4 hộ)
Từ 150 triệu đồng trở lên 10,0% (3 hộ) 0,0%
Tần suất gửi tiền về 1 tháng / lần 100,0% (30 hộ) 13,3% (4 hộ)
3 – 4 tháng / lần 0,0% 86,7% (26 hộ)
Hình thức gửi tiền Chuyển qua ngân hàng chính thức 100,0% (30 hộ) 100,0% (30 hộ)

4. Ảnh hưởng đến thu nhập, chi tiêu và điều kiện sinh hoạt:

  • Thu nhập và chi tiêu: Hộ có người đi XKLĐ có nguồn thu nhập chính và mang tính quyết định là tiền kiều hối, giúp họ có thêm vốn mở rộng hoạt động buôn bán, kinh doanh hoặc tái đầu tư sản xuất nông nghiệp. Ngược lại, nhóm hộ không có người đi XKLĐ phụ thuộc hoàn toàn vào trồng trọt và chăn nuôi đơn thuần. Các khoản chi tiêu của hộ có người đi XKLĐ được phân bổ cho sinh hoạt hàng ngày, chăm sóc y tế, giáo dục con cái, mua sắm đồ dùng gia đình, xây dựng nhà cửa và đặc biệt là thanh toán dứt điểm các khoản nợ vay xuất cảnh ban đầu.
  • Điều kiện sinh hoạt vật chất: Khảo sát thực địa chỉ ra sự phân hóa rõ rệt giữa hai nhóm hộ:
    • Nhà ở: Nhóm hộ có người đi XKLĐ có tỷ lệ nhà kiên cố 2 tầng cao hơn đáng kể so với nhóm hộ không có người đi XKLĐ.
    • Tiện nghi gia đình: Dù cả hai nhóm hộ đều phổ biến các tiện nghi căn bản như tivi, tủ lạnh, bếp gas và bình nóng lạnh, nhưng nhóm hộ có người đi XKLĐ có tỷ lệ sở hữu máy giặt và máy điều hòa nhiệt độ áp đảo so với nhóm đối chứng.
    • Phương tiện đi lại: 100% các hộ ở cả hai nhóm đều sở hữu xe máy; tuy nhiên, một số hộ có người đi XKLĐ đã tích lũy mua được xe ô tô, trong khi ở nhóm hộ không có người đi XKLĐ hoàn toàn không ghi nhận trường hợp nào sở hữu ô tô.

Phần 5: Kết luận

Khẳng định xuất khẩu lao động là hướng đi mang lại hiệu quả thực tế trong việc chuyển đổi cơ cấu việc làm, xóa đói giảm nghèo và nâng cao thu nhập cho người dân thị trấn Yên Phú. Mặc dù gặp nhiều rủi ro về chi phí vay nợ ban đầu và chịu ảnh hưởng tiêu cực từ đại dịch Covid-19, dòng kiều hối chuyển về đã tạo bước ngoặt cải thiện đời sống vật chất, nâng cấp điều kiện ăn ở và trang thiết bị sinh hoạt của các hộ gia đình miền núi.

Kết quả nghiên cứu và đóng góp thực tiễn

Khóa luận đã cung cấp hệ thống dữ liệu thực nghiệm chuẩn xác về tình hình xuất khẩu lao động và đời sống kinh tế hộ gia đình tại thị trấn Yên Phú với những kết quả cụ thể:

  • Xác lập bức tranh nhân khẩu học của người đi XKLĐ tại địa phương: Lao động chủ yếu là nam giới trẻ tuổi (70% nam, 60% ở độ tuổi 20-30), trình độ phổ thông (76,7% tốt nghiệp THPT), phần lớn chưa kết hôn (66,7%) và có nghề nghiệp xuất phát điểm là học sinh/sinh viên (60%). Khi xuất cảnh, người lao động chuyển dịch chủ yếu sang làm công nhân công nghiệp (70%) tại hai thị trường có thu nhập cao là Hàn Quốc (56,7%) và Nhật Bản (43,3%).
  • Phản ánh trung thực gánh nặng tài chính ban đầu: Chi phí xuất cảnh dao động từ 200 đến trên 300 triệu đồng, buộc 100% hộ gia đình phải sử dụng đòn bẩy tài chính thông qua kênh tín dụng ngân hàng và vay mượn người thân họ hàng.
  • Lượng hóa tác động của đại dịch Covid-19 đối với kiều hối: Dòng tiền gửi của lao động bị suy giảm rõ rệt, từ mức 100 - dưới 150 triệu đồng/năm (chiếm 90% trước dịch) xuống còn 50 - dưới 100 triệu đồng/năm (chiếm 86,7% sau dịch); tần suất gửi tiền cũng bị kéo giãn từ định kỳ hàng tháng sang 3-4 tháng/lần (86,7%).
  • Chứng minh sự vượt trội về đời sống vật chất: Nhờ nguồn kiều hối (dù bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh), các hộ có người đi XKLĐ đã tạo dựng được điều kiện sống tốt hơn nhóm hộ thuần nông: sở hữu nhà 2 tầng kiên cố, mua sắm các thiết bị tiện nghi giá trị cao (điều hòa, máy giặt) và một số hộ đã mua được xe ô tô.

Về mặt đóng góp, nghiên cứu bổ sung bằng chứng thực địa cho phân ngành Xã hội học Nông thôn và Xã hội học Di dân tại một địa bàn miền núi đặc thù có 14 dân tộc thiểu số cùng sinh sống. Nghiên cứu chỉ ra tính hai mặt của việc tham gia thị trường lao động quốc tế: vừa là phương thức tích lũy tài sản nhanh chóng giúp cải thiện đời sống hộ gia đình, vừa tiềm ẩn rủi ro nợ nần lớn và dễ bị tổn thương trước những cú sốc kinh tế - y tế toàn cầu.

Hạn chế và hướng mở rộng nghiên cứu

Căn cứ trên phạm vi và nội dung văn bản, đề tài còn tồn tại một số giới hạn:

  • Khóa luận chỉ giới hạn khảo sát 60 mẫu hộ gia đình tại một địa bàn duy nhất là thị trấn Yên Phú, huyện Bắc Mê, do đó khả năng suy rộng kết quả cho toàn bộ khu vực miền núi phía Bắc còn hạn chế.
  • Toàn bộ dữ liệu về đặc điểm, tiền lương và công việc của người đi XKLĐ đều được thu thập gián tiếp qua đại diện hộ gia đình ở quê hương, chưa thể phỏng vấn trực tiếp người lao động đang làm việc tại nước ngoài.
  • Nghiên cứu tập trung thuần túy vào khía cạnh đời sống vật chất (thu nhập, chi tiêu, nhà ở, tiện nghi), chưa đi sâu đánh giá các tác động phi vật chất như đời sống tâm lý, tình cảm, sự gắn kết vợ chồng hay sự phát triển của con cái khi thiếu vắng cha/mẹ trong gia đình (mặc dù các khía cạnh này đã được chỉ ra trong phần tổng quan tài liệu).

Hướng mở rộng nghiên cứu: Có thể mở rộng địa bàn khảo sát sang các xã lân cận của huyện Bắc Mê; tăng quy mô mẫu khảo sát; thực hiện các nghiên cứu theo dõi dọc (longitudinal study) để đánh giá khả năng duy trì sinh kế và tái hòa nhập thị trường lao động của người đi XKLĐ sau khi hoàn thành hợp đồng về nước.

Giá trị tham khảo

Báo cáo khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên và học viên ngành Xã hội học, Công tác xã hội, Kinh tế phát triển: Tham khảo cách thức vận dụng kết hợp Lý thuyết Hút - Đẩy của Everett S. Lee và Lý thuyết Cấu trúc - Chức năng vào nghiên cứu di cư nông thôn; học hỏi phương pháp thiết kế bảng hỏi và kỹ thuật chọn mẫu đối chứng (30 hộ có người đi XKLĐ so sánh với 30 hộ không có người đi XKLĐ).
  • Cán bộ nghiên cứu chính sách và quản lý lao động địa phương: Các số liệu thực chứng tại Phần 4 (chi phí đi từ 200-300 triệu đồng, các kênh vay vốn, tác động của dịch Covid-19 đến dòng tiền gửi) là cơ sở thực tế giá trị cho chính quyền huyện Bắc Mê và tỉnh Hà Giang trong việc xây dựng các chính sách hỗ trợ tín dụng ưu đãi, quản lý thị trường môi giới xuất khẩu lao động và định hướng đào tạo nghề cho lao động nông thôn miền núi.

Câu hỏi thường gặp

1. Chi phí trung bình để một lao động tại thị trấn Yên Phú đi XKLĐ là bao nhiêu và các gia đình huy động từ những nguồn nào?
Theo kết quả điều tra tại Bảng 4.9 và Bảng 4.10, có 90,0% số hộ phải chi trả mức phí từ 200 triệu đến dưới 300 triệu đồng, và 10,0% số hộ chi trả từ 300 triệu đồng trở lên. Để có đủ số tiền này, 100% hộ gia đình phải vay vốn ngân hàng, 100% hộ vay mượn từ người thân họ hàng, 73,3% sử dụng tiền tự tích lũy của gia đình và 60,0% vay mượn thêm từ bạn bè.

2. Người lao động tại thị trấn Yên Phú chủ yếu sang làm việc tại những quốc gia nào và đảm nhận công việc gì?
Theo Bảng 4.6 và Bảng 4.8, người lao động chỉ tập trung ở hai thị trường tiếp nhận là Hàn Quốc (chiếm 56,7%) và Nhật Bản (chiếm 43,3%). Tại nơi đến, 70,0% lao động làm công nhân tại các xí nghiệp, khu công nghiệp, xưởng cơ khí, đóng tàu hoặc công trình xây dựng; 30,0% còn lại làm nông dân thực hiện các công việc trồng trọt, thu hoạch hoa màu hoặc chăn nuôi.

3. Đại dịch Covid-19 đã làm biến động mức tiền gửi và tần suất chuyển tiền kiều hối như thế nào?
Theo Bảng 4.11 và Bảng 4.13, trước khi có dịch Covid-19, 90,0% số hộ nhận được từ 100 đến dưới 150 triệu đồng/năm và 100% nhận tiền đều đặn 1 tháng/lần. Sau khi dịch bùng phát, mức gửi giảm xuống 50 đến dưới 100 triệu đồng/năm (chiếm 86,7% số hộ) và tần suất gửi tiền giãn cách thành 3-4 tháng mới gửi một lần (chiếm 86,7% số hộ). Hình thức chuyển tiền trong cả hai giai đoạn duy trì 100% qua hệ thống ngân hàng chính thức.

4. Sự khác biệt cụ thể về điều kiện vật chất giữa hộ có người đi XKLĐ và hộ không có người đi XKLĐ được thể hiện qua những chỉ báo nào?
Khóa luận chỉ ra rằng hộ có người đi XKLĐ có tỷ lệ nhà xây kiên cố hai tầng cao hơn rõ rệt; sở hữu nhiều trang thiết bị tiện nghi đắt tiền như điều hòa nhiệt độ và máy giặt với số lượng vượt trội so với hộ không có người đi XKLĐ; đồng thời trong nhóm hộ có người đi XKLĐ đã xuất hiện hộ gia đình mua được xe ô tô, điều không ghi nhận được ở nhóm hộ đối chứng.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Triệu Tiến Trực đã hoàn thành các mục tiêu nghiên cứu đề ra, phản ánh một cách khoa học và khách quan tác động của xuất khẩu lao động đối với đời sống vật chất của các hộ gia đình tại thị trấn Yên Phú, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang. Thông qua phương pháp nghiên cứu xã hội học thực nghiệm trên cỡ mẫu 60 hộ gia đình, tác giả chứng minh rằng nguồn tiền gửi kiều hối từ Hàn Quốc và Nhật Bản là động lực kinh tế chủ đạo giúp các gia đình gia tăng thu nhập, thanh toán nợ nần, kiến thiết nhà ở kiên cố và hiện đại hóa tiện nghi sinh hoạt. Bên cạnh việc khẳng định vai trò tích cực của xuất khẩu lao động đối với phát triển kinh tế hộ gia đình miền núi, công trình cũng chỉ rõ những rủi ro tài chính từ chi phí xuất cảnh ban đầu và sự suy giảm nguồn thu kiều hối khi đối mặt với các biến cố ngoại cảnh như đại dịch Covid-19.