Đặt vấn đề Xuất khẩu lao động là một chiến lược quan trọng, lâu dài, là một nội dung của Chương trình quốc gia về việc làm, một hoạt động kinh tế - xã hội góp phần phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhiệm vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Ở các nước đang phát triển, tỷ lệ tăng dân số hàng năm vẫn còn cao, vấn đề giải quyết việc làm cho số người ñến ñộ tuổi lao động là một gánh nặng cho các quốc gia. Do đó, xuất khẩu lao động trở thành vấn đề cấp thiết có nội dung kinh tế - xã hội sâu sắc và liên quan chặt chẽ với các yếu tố kinh tế xã hội khác trong việc định hướng và phát triển nền kinh tế quốc gia. Việt Nam là một nước nông nghiệp với 64% dân số sống ở khu vực nông thôn, chiếm 70.2% lực lượng lao động của cả nước (Tổng cục thống kê, 2017). Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và xu hướng toàn cầu hóa Việt Nam đang có nhiều cơ hội phát huy nguồn nhân lực, trao đổi hàng hóa “sức lao động”.Theo số liệu tổng kết của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội năm 2020, Việt Nam đã có trên 54.307 lao động đi làm việc ở nước ngoài, trong đó có (20.107 lao động nữ).
Nhật Bản là thị trường tiếp nhận nhiều lao động Việt Nam nhất với 27.151 lao động nữ), tiếp đến là Đài Loan (Trung Quốc) 23.403 lao động, Hàn Quốc 1.077 lao động, Romania 481 lao động, Trung Quốc: 464 lao động, Singapore 341 lao động, Uzbekistan 227 lao động, Algeria 150 lao động và các thị trường khác. Từ đó các khoản thu nhập của hộ gia đình ở nông thôn không chỉ là từ việc làm nông nghiệp mà còn do khoản thu nhập từ hoạt động của lao động di cư. Theo thống kê của Ngân hàng thế giới, tổng tiền chuyển từ nước ngoài về trong năm 2006 là 4.8 tỷ đô la Mỹ, khoản tiền này chiếm 8% GDP quốc gia (Nguyễn Đình Cử & Phạm Đại Đồng, 2014). Đồng thời tiền gửi về có ảnh hưởng rất lớn tới thu nhập của hộ gia đình ở quê và rất cần thiết cho việc trang trải nợ nần, chi phí học hành 1 cho con cái và ốm đau của người thân.
Tiền gửi về của người di cư chiếm khoảng 60% đến 70% tổng thu nhập bằng tiền của các hộ. Nếu không có tiền gửi về của các lao động đi làm ăn xa, nông thôn sẽ không có đủ thu nhập để tồn tại hoặc trang trải cho các chi phí học hành và sức khỏe (Đặng Nguyên Anh, 2005). Xuất khẩu lao động có vai trò quan trọng trong sự phát triển của nhiều địa phương, đã đem lại nhiều kết quả, vừa là phương tiện thu hút nguồn ngoại tệ thông qua tiền gửi của người lao động làm việc ở nước ngoài, vừa là cơ hội tăng giải quyết việc làm, giảm thất nghiệp. Đây được coi là chiến lược phát triển cuả nhiều địa phương, tăng khả năng tích lũy cho xã hội, đa dạng hóa việc làm và thu nhập cho người lao động, đặc biệt đối với người lao động là nông dân thì XKLĐ là một hướng đi gắn với xóa đói, giảm nghèo.
Yên Phú là thị trấn nằm ở trung tâm huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang. Phía Đông giáp với xã Yên Phong, phía Tây giáp với xã Lạc Nông,phía Nam giáp với xã Yên Cường, phía Bắc giáp với xã Giáp Trung của huyện Bắc Mê và giáp xã Quảng Lâm của huyện Bảo lâm tỉnh Cao Bằng; Dân số: Thị trấn có 1.230 khẩu với 14 dân tộc cùng sinh sốnggồm dân tộc: Tày, Dao, Kinh, Mông, Pu Péo, Mường, Nùng, Cao Lan, Giấy, Bố y, Hoa, Pà Thẻn, Lô lô, Ngái, La Chí. Thị trấn được chia làm 17 đơn vị hành chính: 12 thôn và 5 tổ dân phố. Người dân tại địa bàn thị trấn Yên Phú chủ yếu là lao động nông nghiệp và đi làm ăn xa, toàn thị trấn có hơn 80 hộ đi XKLĐ tại nước ngoài.
Trong đó những người đi làm ăn xa trong nước chủ yếu là đến các thành phố như: Hà Nội, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải Phòng, Hải Dương,…vì đây là những thành phố lớn tập trung nhiều việc làm và các khu công nghiệp lớn. Còn đối với XKLĐ thì tại địa bàn xã những năm gần đây thường có xu hướng đi sang Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc,. Nhờ XKLĐ mà thị trấn giải quyết được vấn đề việc làm, xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập, để phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn. 2 Gia đình là hạt nhân của xã hội, cung cấp nguồn lao động và tham gia tích cực vào thị trường lao động, do đó gia đình có vị trí hết sức quan trọng trong xã hội, đồng thời cũng chịu những hệ quả tích cực và tiêu cực của mọi chính sách kinh tế và xã hội.
Vì những vấn đề trên tôi quyết định nghiên cứu đề tài: “ Ảnh hưởng của xuất khẩu lao động đối với đời sống vật chất của hộ gia đình” nghiên cứu trường hợp tại TT Yên phú, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang. Mục tiêu nghiên cứu 1. Mục tiêu chung - Ảnh hưởng của xuất khẩu lao động đối với đời sống vật chất hộ gia đình tại thị trấn Yên Phú, Huyện Bắc Mê, Tỉnh Hà Giang 1. Mục tiêu cụ thể - Tìm hiểu đặc điểm người đi xuất khẩu lao động và tiền gửi về thông qua hộ gia đình có người đi xuất khẩu lao động được điều tra tại thị trấn Yên Phú, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang - Tìm hiểu ảnh hưởng của xuất khẩu lao động đối với thu nhập và chi tiêu của hộ gia đình có người đi XKLĐ được điều tra tại thị trấn Yên Phú, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang - Tìm hiểu ảnh hưởng của xuất khẩu lao động đối với điều kiện sinh hoạt của hộ gia đình có người đi XKLĐ được điều tra tại tại thị trấn Yên Phú, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang 1.
Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 1. Đối tượng nghiên cứu - Đề tài tập chung tìm hiểu ảnh hưởng của xuất khẩu lao động đối với đời sống vật chất của hộ gia đình có người đi XKLĐ 1. Khách thể nghiên cứu - Những hộ gia đình có người đi XKLĐ từ 3 năm trở lên năm tại thị trấn Yên Phú, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang. Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi nội dung: Xuất khẩu lao động có ảnh hưởng rất lớn tới đời sống của người dân, đặc biệt là những gia đình có người đi xuất khẩu lao động.
Việc đi xuất khẩu lao động tác động đến đời sống, điều kiện kinh tế, sự phân công lao động trong gia đình, nguồn thu nhập,… Tuy nhiên trong đề tài này do điều kiện và thời gian có hạn đề tài chỉ tập trung tìm hiểu đặc điểm của người đi XKLĐ, ảnh hưởng của XKLĐ đối với thu nhập và chi tiêu của hộ gia đình có người đi và tìm hiểu ảnh hưởng của XKLĐ đối với điều kiện sinh hoạt của các hộ gia đình - Pham vi không gian: Đề tài được thực hiện tại thị trấn Yên Phú, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang. - Phạm vi thời gian: Thu thập thông tin thứ cấp từ năm 2009 trở lại đây 4 PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Lý thuyết Hút – Đẩy Everett S.Lee là một nhà xã hội học người Mỹ, chuyên nghiên cứu về di cư lao động.
Ông là người đã lý thuyết hóa mối quan hệ giữa di cư và kinh tế, đồng thời mô hình hóa các nhân tố thúc đẩy di cư và thu hút di cư. Các nghiên cứu của ông có vai trò quan trọng đối với các nghiên cứu về di cư lao động trên thế giới, đặc biệt có ý nghĩa to lớn đối với việc phân tích các nguyên nhân di cư và tác động của quá trình di cư. Cho đến nay, lý thuyết về di cư của ông vẫn là một trong những lý thuyết có tầm ảnh hưởng to lớn và mạnh mẽ nhất trong các nghiên cứu kinh tế học và đặc biệt là trong xã hội học về di cư lao động.Lee đã trình bày trong công trình nghiên cứu “Lý thuyết về di cư” xuất bản tại Mỹ. Tác phẩm này là nền tảng cho các nghiên cứu xã hội học về di cư lao động.
Nó chứa đựng những kiến giải sâu sắc về tình hình di cư thực tế tại Mỹ và một số quốc gia trên Thế giới.Lee cho rằng di cư được dựa trên 4 nhóm nhân tố: (i). Các nhân tố gắn bó với nơi ở gốc. Các yếu tố gắn với nơi sẽ đến. Các trở ngại khi di cư.
Các nhân tố thuộc về người di cư. Quyết định di cư là quá trình lựa chọn của các cá nhân, việc đưa ra quyết định đó lại phụ thuộc vào tuổi tác, giới tính, tầng lớp xã hội, trình độ học vấn, quan hệ gia đình…. Tuy nhiên, tất cả người di cư đều có cùng một mục đích là tìm kiếm cơ hội mới và gạt bỏ rủi ro ở nơi đang sống, thông thường người di cư sẽ lựa chọn giữa lực hút và lực đẩy, cuối cùng họ thường chọn lực hút bởi con người luôn mong muốn những điều tốt đẹp đến với họ, từ đó thôi thúc họ quyết định di cư. 5 - Các lực hút tại nơi đến: Đất đai màu mỡ, tài nguyên phong phú, khí hậu ôn hòa, môi trường sống thuận lợi hơn; cơ hội sống thuận tiện, dễ kiếm việc làm, có điều kiện để tăng thu nhập và có triển vọng cải thiện đời sống sinh hoạt ổn định hơn, môi trường văn hóa xã hội tốt hơn nơi cũ.
- Các lực đẩy tại nơi ở gốc: Điều kiện sống quá khó khăn, thu nhập thấp, khó có cơ hội tìm kiếm việc làm có thể do thiên tai, hạn hán, dịch bệnh… Đất đai canh tác ít, bạc màu, không có vốn và kỹ thuật để chuyển đổi ngành nghề, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cải thiện đời sống hay do nơi ở cũ bị giải tỏa, di dời. Các chính sách, các chương trình điều chuyển lao động và dân cư với sự hỗ trợ, chỉ đạo của Nhà nước như: Chương trình kinh tế mới, định canh, định cư… - Các trở ngại khi di cư: Yếu tố địa lý, ngôn ngữ, phải từ bỏ cộng động quen, hòa nhập với cuộc sống ở nơi ở mới… - Các nhân tố thuộc về người di cư: Bị mặc cảm, định kiến xã hội nên không muốn ở lại cộng đồng nơi cư trú. Nhu cầu rời khỏi nơi cũ để thoát khỏi những kỷ niệm cũ và những sự kiện nặng nề về tâm lý đã xảy ra trong cuộc đời. Mong muốn đến một nơi mới nhằm thay đổi môi trường xã hội và xây dựng các mối quan hệ xã hội tốt đẹp hơn.
Nơi gốc Nơi đến Mô hình về di cư lao động của Everett S.