Chương 1: Tổng quan nghiên cứu liên quan đến đề tài Chương 2: Cơ sở khoa học về di chuyển lao động có kỹ năng trong khối kinh tế khu vực Chương 3: Thực trạng di chuyển lao động có kỹ năng của Việt Nam trong Cộng đồng ASEAN Chương 4: Quan điểm và giải pháp cho di chuyển lao động có kỹ năng của Việt Nam trong Cộng đồng ASEAN. 8 Chƣơng 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Tổng quan các nghiên cứu ngoài nƣớc 1. Các nghiên cứu lý thuyết Các lý thuyết về di chuyển1 lao động quốc tế nhìn chung hướng tới việc giải thích về sự hình thành các dòng di chuyển lao động ở các giai đoạn phát triển khác nhau của kinh tế thế giới, với những cách tiếp cận vấn đề rất khác nhau. Lý luận về di chuyển lao động quốc tế với mô hình lao động dư thừa (mô hình nền kinh tế hai khu vực) do Arthur Lewis đưa ra đầu tiên vào năm 1954 trong nghiên cứu ”Sự phát triển kinh tế với nguồn cung lao động vô hạn” trong đó giải thích sự di chuyển từ nông nghiệp sang công nghiệp của lao động ở một nước vừa mới công nghiệp hoá [79].
Kế thừa lý thuyết của Lewis, năm 1965, John Fei và Gustav Ranis đã chỉnh lý lại thành mô hình Lewis – Ranis – Fei (LRF), giải thích hiện tượng di chuyển lao động từ các nước đang phát triển sang các nước phát triển trong một giai đoạn nhất định dựa trên sự chênh lệch về điều kiện phát triển giữa các quốc gia. Trong lý thuyết của mình, hai tác giả cho rằng quá trình di chuyển lao động được thực hiện khi có một khu vực kinh tế mới ra đời, nhu cầu về đầu vào lao động sẽ giải quyết dư thừa lao động ở khu vực truyền thống. Bên cạnh đó, mô hình Harris – Todaro (mô hình HT) giải thích nguyên nhân của sự di chuyển lao động là thu nhập kỳ vọng cao hơn mức sống hiện có của người lao động trong một khoảng thời gian nhất định. Các tác giả cho rằng, trong tương lai, thu nhập của lao động ở khu vực thành thị sẽ cao hơn so với ở khu vực nông thôn [68].
Nếu như các mô hình LRF hay HT giải thích sự di chuyển lao động là do tác động của yếu tố thu nhập thì lý thuyết “kinh tế học mới về sự di cư” của Oded Stark lại cho rằng hiện tượng di cư lao động không hẳn bị phụ thuộc vào tiền công/thu nhập, di chuyển lao động vẫn xảy ra ở những nơi mà mức lương ở nơi mới tới không tốt bằng nơi cũ. Oded Stark nhấn mạnh di chuyển lao động quốc tế trở thành một chiến lược điển hình để giúp người lao động tối thiểu hóa rủi ro và vượt qua khó khăn về nguồn vốn, chú trọng đến phúc lợi kinh tế của hộ gia đình [85]. Michael Piore, nhà kinh tế học, tác giả của lý thuyết “thị trường lao động kép” lại cho rằng chính sách tuyển dụng của các nước tiếp nhận lao động là cơ sở hình thành sự di chuyển lao động. Ông giải thích hoạt động di chuyển lao động từ các nước đang phát Trong toàn bộ nội dung, NCS sử dụng đồng nhất di chuyển và dịch chuyển thay thế lẫn nhau.
1 9 triển sang các nước phát triển không phải do việc tìm kiếm cơ hội mới của những người lao động mà có nguồn gốc từ việc tuyển dụng của chủ lao động ở các nước phát triển đối với lao động có tiền lương thấp. Chính sách tuyển dụng của các nước tiếp nhận lao động là cơ sở hình thành sự di chuyển này [87]. Năm 1994, Wallerstein lại đưa ra “lý thuyết các hệ thống thế giới” cho rằng: sự di cư là kết quả tự nhiên và khách quan trong quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản. Một trong những lý do của di chuyển lao động quốc tế là tâm lý “lánh nạn” của người dân khi họ phải đối mặt với sự bất ổn định về chính trị của nước mình sinh sống.
Piyasiri Wickramasekara cho rằng “có cả yếu tố kinh tế và phi kinh tế ảnh hưởng đến các dòng chảy di cư” [88]. Nguyên nhân rõ ràng và phổ biến nhất của di chuyển lao động chính là để tìm kiếm thu nhập cao hơn. Ngoài ra, còn có lý do “phi kinh tế” như “người di cư được lôi kéo bởi bạn bè, người thân và các mối quan hệ xã hội” để thám hiểm và khai phá, tìm kiếm những cơ hội của cầu về lao động. Và lý do chính trị cũng là một yếu tố tác động tới di chuyển lao động.
Trong một số trường hợp, người di cư không có sự lựa chọn. Họ có thể bị buộc phải ra đi bởi những cuộc xung đột vũ trang, khủng bố tại quê nhà hoặc do suy thoái môi trường. Họ di chuyển để tìm kiếm sự an toàn trong cuộc sống. Như vậy, có thể thấy các nghiên cứu chủ yếu đưa ra một số lý thuyết chung về di chuyển lao động quốc tế, giải thích nguyên nhân của sự di chuyển lao động trong các giai đoạn của quá trình phát triển kinh tế thế giới nhưng chưa có lý thuyết nào tập trung giải thích di chuyển lao động trong khối kinh tế khu vực và đặc biệt đề cập đến di chuyển của lao động kỹ năng trong khu vực đó.
Mỗi lý thuyết đưa ra một hướng giải thích khác nhau của vấn đề di chuyển lao động nhưng chưa làm rõ bản chất, nội dung, các yêu cầu quản lý di chuyển, các nhân tố ảnh hưởng và các chỉ tiêu đánh giá trong điều kiện bối cảnh mới của hội nhập và dưới tác động của cách mạng công nghệ. Do vậy, chưa thể hiện hết những yếu tố đặc trưng của di chuyển lao động kỹ năng trong khối kinh tế khu vực trong bối cảnh so sánh và cạnh tranh nhân lực khu vực và quốc tế.2 Các nghiên cứu về di chuyển lao động quốc tế và di chuyển lao động trong khu vực Ngoài những công trình nhằm đưa ra khung lý thuyết về di chuyển lao động quốc tế, còn rất nhiều nghiên cứu thực tiễn hiện đại tập trung phân tích các vấn đề liên quan để tìm ra xu hướng, quy luật vận động của các dòng di chuyển lao động nói chung nhưng 10 chưa có nghiên cứu nào chuyên sâu về việc di chuyển lao động có kỹ năng, nhất là di chuyển lao động có kỹ năng trong khối ASEAN. “Báo cáo di cư thế giới 2010: Tương lai di cư: xây dựng năng lực để thay đổi” của IOM [73] và báo cáo “Tổng quan di cư quốc tế 2011: SOPEMI” của OECD [92] đưa ra bức tranh tổng quát về di chuyển lao động quốc tế với những phân tích về xu hướng di chuyển lao động quốc tế hiện nay. Nghiên cứu đã luận giải nguyên nhân di chuyển lao động quốc tế là sự chênh lệch về phát triển nhân khẩu học, các hiệu ứng và tác động của sự thay đổi môi trường toàn cầu và làm nổi bật những vấn đề, thách thức hiện nay của hiện tượng này.
Từ đó đưa ra hàm ý rằng cần các chính sách thích hợp để quản lý các dòng lao động đến và đi và cải tổ các lĩnh vực mới của di cư [92]. Tuy nhiên, đây là bản báo cáo khá chung về tình hình di cư quốc tế, chưa phân tích riêng về từng khu vực kinh tế và cũng không chú trọng đến di chuyển lao động có kỹ năng. Một số các nghiên cứu gắn kết giữa di chuyển lao động quốc tế với di chuyển lao động nội khối của Liên minh Châu Âu (EU) cũng có thể được coi là những nghiên cứu có tính tham khảo cao cho Luận án. Năm 2007, Nghiên cứu “Di cư quốc tế, Phát triển kinh tế và chính sách” do Caglar Ozden, Mavice Schiff, Palgrave Macmillan biên tập [62] đã đưa ra những khuyến nghị quan trọng về chính sách nhằm thúc đẩy và quản lý di chuyển lao động quốc tế trong phát triển kinh tế trên phạm vi toàn cầu nói chung và đặc biệt trong nội khối EU nói riêng.
Nghiên cứu “Di chuyển nội khối EU: “trụ cột thứ hai” của chính sách di cư lao động của EU”, Yves Pascouau [101] đã phân tích khá sâu chính sách đối với lao động di cư. Ông cho rằng việc xây dựng chính sách chung đối với lao động di cư cho tất cả các quốc gia trong khu vực EU là một quá trình lâu dài và liên tục, bàn luận về các quy tắc di chuyển lao động nội khối đã tồn tại trong luật pháp của EU và chỉ ra những bất cập về chính sách di chuyển lao động nội khối EU cũng như các giải pháp khuyến khích thực thi quyền tự do di chuyển lao động của tất cả các quốc gia thành viên. Tuy nhiên những nghiên cứu này gắn nhiều với đặc trưng của khối EU ở thời điểm khởi đầu của xu hướng lao động di cư quốc tế. Vậy nên, bài học kinh nghiệm rút ra cho Luận án là tư duy logic phân tích trong nghiên cứu, gắn kết giữa đặc điểm của các nước khối EU với xu hướng di chuyển lao động nội khối, từ đó đưa ra các hướng giải quyết và đề xuất chính sách phù hợp.
Nghiên cứu của Jennee Grace U. Rubrico về “Di chuyển tự do và có quản lý: các chính sách di chuyển lao động trong ASEAN và EU” (2015) [78] đưa ra nhiều 11 gợi mở cho Luận án. Nghiên cứu đã chỉ ra sự khác biệt về chính sách quản lý lao động di cư giữa khu vực EU và ASEAN. ASEAN đã phát huy lợi thế là một khu vực đi sau, đã tránh được những vấn đề mà EU mắc phải trong quá trình thực hiện một cộng đồng kinh tế chung thông qua việc việc đưa ra chính sách tự do hóa di chuyển lao động khá cẩn thận và dè dặt.
Việc tìm hiểu sự khác trong quản lý chính sách giữa EU và ASEAN không phải là mục tiêu của Luận án, tuy nhiên những bài học của nghiên cứu này về cách quản lý lao động di cư của ASEAN sẽ là một trong số các cơ sở so sánh kiểm chứng của Luận án khi mô tả, phân tích thực trạng hay đưa ra đánh giá, nhận xét chính sách của ASEAN trong bối cảnh cập nhật hiện nay. Thực tiễn dòng di chuyển lao động giữa các nước thành viên ASEAN (di chuyển nội khối) đã được nghiên cứu ở giai đoạn trước khi thành lập Cộng đồng Kinh tế ASEAN với số liệu phong phú, quy mô, xu hướng, đặc điểm khá đầy đủ trong các nghiên cứu “Quản lý di cư lao động quốc tế trong ASEAN – Nghiên cứu 6 nước” của Aniceto C.