Chương 1 SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHAT TRIEN CUA ASEAN+3 1.Qua trình hình thành ASEAN+3 1. Ý twéng thành lập Ý tưởng hình thành một thé chế hợp tác đa phương ở khu vực Đông A đã có từ rất sớm trước khi ASEAN+3 ra đời. Sau khi Tổ chức Hiệp ước Đông Nam A (SEATO) do Mỹ thiết lập năm 1954, với 8 thành viên, trong đó có 2 nước Đông Nam Á là Thailand và Philippines ra đời, vào đầu những năm 60, Trung tâm Nghiên cứu kinh tế Nhật Bản đã đưa ra sang kiến về “Hợp tác kinh tế Thái Bình Dương”. Trong năm 1966, một số tô chức khu vực được thành lập như Ngân hàng phát triển châu A (ADB), Hội đồng chau A Thái Binh Dương (ASPAC), Hội nghị Bộ trưởng về phát triển kinh tế ở Đông Nam Á (do Mỹ và Nhật Bản thiết lập).
Ý tưởng thiết lập một cơ chế hợp tác giữa các nước Đông Á — rõ ràng nhất được Thủ tướng Mahathir Mohamad của Malaysia đưa ra vào năm 1990. Theo Thủ tướng Malaysia khi đó, Nhóm kinh tế Đông A (EAEG) dự kiến sẽ bao gồm 6 nước thành viên ASEAN_, Nhật Ban, Hàn Quốc, Trung Quốc, Hồng Kông, Trung Hoa Dai Bắc và Việt Nam. Nhóm này sẽ gặp nhau hàng năm dé thảo luận các van dé thuộc mối quan ngại chung đối với các nền kinh tế Đông Á. Y tưởng này sau đó đã được triển khai và được một số nước hưởng ứng, song đã không bao giờ được hiện thực hóa _.
That bại của các ý tưởng trên là do lúc đó tại Đông A đang tồn tại nhiều khái niệm chủ nghĩa khu vực có tính chất cạnh tranh nhau. Trong khi chủ nghĩa khu vực của APEC , thậm chí của cả ASEAN, còn chưa thuyết phục được các nước trong vùng về giá trị của nó, các nước Đông Á chưa sẵn sàng chấp nhận thêm một chủ nghĩa khu vực mới mang tên Đông A. Trong khi đó, Mỹ đã kịch liệt phản đối vì lo ngại một khuôn khổ hợp tác Đông Á có thể làm suy yêu APEC và đe đọa lợi 9 ích của Mỹ ở Đông Á. Theo đó, Nhật Bản cũng đã né tránh các sáng kiến hợp tác Đông A của ASEAN để làm vừa lòng Mỹ.
Tuy nhiên, cho tới cuối năm 1997, van dé thé chế hoá Đông A nỗi lên mạnh mẽ trong bối cảnh khủng hoảng tài chính khu vực đặt ra nhu cầu hợp tác khu vực lớn hơn và các nước thànhv iên APEC ở Đông A thất vọng về những tiến bộ chậm chap của tiến trình liên kết kinh tế châu A - Thái Binh Dương do Mỹ lãnh đạo. Theo đó, Đông Á quyết tâm hơn trong việc thành lập một tổ chức hợp tác khu vực riêng cho minh và vì mình. Không chỉ ASEAN mà cả 3 nước lớn ở Đông Bắc A bao gồm Trung Quốc _, Nhật Ban va Han Quốc đã không thê do dự hơn nữa trong việc thiết lập một cơ chế hợp tác khu vực ở Đông Á.Sự ra đời ASEAN+3 Các nguyên nhân thúc đây các nhà lãnh đạo Đông Á thành lập ASEAN +3 bao gồm: Thứ nhất, cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á (1997-1998) đã giúp các nước Đông Á nhận thấy rõ hơn mức độ phụ thuộc lẫn nhau giữa các nên kinh tế trong khu vực của họ. Nhu cau thé chế hóa một sự liên kết kinh tế khu vực vốn đã diễn ra trong thực tế, được đặt ra cấp bách hơn bao giờ hết.
Thứ hai, sự phát triển của chủ nghĩa khu vực ở những khu vực khác _, đặc biệt là ở châu Âu (với việc làm sâu sắc và mở rộng hơn nữa quá trình hội nhập khu vực ở châu Âu) và Bắc Mỹ (thông qua kế hoạch xây dựng Khu mậu dịch tự do châu Mỹ, đã hoạt động từ năm 2005) đã thúc đây các nước Đông Á khai sinh chủ ng hĩa khu vực của mình , nhằm nâng cao vị thế của Đông Á trong nên kinh tế và chính trị thé giới. Với những lý do trên , các nhà lãnh đạo Đông A đã gặp nhau tại Hội nghị Thượng đỉnh không chính thức ASEAN lần thứ hai ở Ku ala Lumpur (Malaysia) ngày 15/12/1997. Sau cuộc họp trên , ngày 16/12/1997, các nhà 10 lãnh đạo ASEAN đã họp riêng với từng nhà lãnh đạo Trung Quốc, Nhật Ban và Hàn Quốc. Như vậy, với Hội nghị thượng đỉnh giữa các nguyên thủ ASEAN và các nhà lãnh đạo 3 quốc gia ở Đông Bac A, tiến trình hợp tác ASEAN+3 đã được thành lập.
Với việc tổ chức họp Thượng đỉnh ASEAN +1 ngay sau Thượng đỉnh ASEAN +3, các nhà lãnh đạo cũng đồng thời tạo ra khuôn khổ ASEAN+3 (ASEAN Plus Three Framework-APT). Sự ra đời của Hợp tac ASEAN +3 là kết qua của những nỗ lực không mệt mỏi của các nước Đông Á, nhất là ASEAN trong nuôi dưỡng và thúc đây chủ nghĩa khu vực ở Đông A. Lan dau tiên, trong lịch sử Đông A, các quốc gia ở khu vực này đã có được một tổ chức hợp tác riêng của mình _„ cho minh và vì mình. Hợp tác ASEAN +3 là sự thé hiện của tinh thần tự tôn _, tự cường khu vực của các quốc gia Đông A.
Với việc thành lập một tô chức hợp tác riêng của khu vực mình, các nhà lãnh đạo Đông Á đã cho thế giới thấy quyết tâm của họ trong việc nâng cao vi thé Đông A trong nền kinh tế và chính trị thé giứờng xứng với tam vóc văn hóa vaiém năng phát triển to lớn trong thé kẩI.Quá trình phát triển ASEAN+3 1.1 Hợp tác ASEAN+3 từ năm 1997 đến năm 2005 Hop tác trong giai đoạn 1997-2005, những nỗ lực của các nước ASEAN+3 được tập trung vào ba hoạt động chính : Xác định mục đích, mục tiêu hợp tác và dé xuất các biện pháp nhăm dat tới các mục tiêu của Hợp tác Đông A; xây dựng các thê chế hợp táđriên khai một số hoạt động hợp tác cụ thé Việc xác định mục tiêu hợp tác đã được thực hiện trong suốt 6 Hội nghị Thượng đỉnh đầu tiên của Hợp tác ASEAN +3. Đáng chú ý là Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN+3 lần thứ ba tại Ma nila (Philippines) ngày 29/11/1999 đã đánh dấu một bước quan trọng trong sự phát triển của Hợp tác ASEAN+3. Tại hội nghị này, hai quyết định quan trọng đã được thông qua: 11 Một là, ra Tuyên bố chung về Hợp tác Đông Á _, trong đó chỉ rõ mục đích, các lĩnh vực và cơ cấu thể chế dé triển khai hợp tác Đông A. Điểm dang chú ý là hội nghị đã ra Tuyên bố chung về Hợp tác Đông Á chứ không phải là Tuyên bố chung về Hợp tác ASEAN+3.
Điều này có hai hàm ý: - Khang định mục tiêu mà các nhà lãnh đạo ASEAN_ +3 hướng tới là Hop tác Đông A chứ không phải là Hợp tác ASEAN+3. - Các nước ASEAN+3 sẽ là nòng cốt thúc day Hop tác Đông A. Hai là, thành lập Nhóm Tam nhìn Đông Á_ (EAVG) theo đề nghị của Tổng thống Hàn Quốc Kim Dae J ung. Nhiệm vu của Nhóm là nghiên cứu đ é xây dựng một tầm nhìn chung về Hợp tác Đông Á.
Song song với quá trình xác định mục tiêu hop tác , trong giai đoạn 1997- 2005, ASEAN+3 cũng chú trọng xây dung các thê chế hợp tác. Ngay từ đầu, khuôn khô của ASEAN +3 đã bao gồm 2 cơ chế: ASEAN+3 và các tiến trình ASEAN +1. Tới Hội nghị Thượng đỉnh Ma nila năm 1999, một cơ chế hop tác mới đã được thành lap. Do là tiễn trình Thượng đỉnh “Cộng 3" giữa Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc.
Sự ra đời của tiến tr ình này vừa là kết quả sớm của Hợp tac ASEAN +3 vừa cung cấp thêm động lực cho sự phát triển của nó. Như vậy, đến đây, Hợp tác ASEAN +3 đã xây dựng xong, về co bản, khuôn khô thê chế của nó. Khuôn khổ đó bao gồm 3 cơ chế: ASEAN+3; các ASEAN+1 và Cộng 3. Theo đó, Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN +3 là cơ quan quyền lực cao nhất có chức năng “hướng dẫn và cung cấp xung lực chính trị cho việc xây dựng Cộng đồng Đông A .” Các cơ chế ASEAN +1 (ASEAN - Trung Quốc, ASEAN - Nhật Bản, ASEAN - Hàn Quốc) có nhiệm vụ thực hiện các chủ trương, các biện pháp do các Hội nghị ASEAN +3 đề ra.
Cơ chế Cộng 3 có nhiệm vụ phối hợp chính sách giữa các nước Đông Bắc A dé tham gia hiệu quả vào Hợp tác ASEAN+3. 12 Cũng trong giai đoạn này, ASEAN+3 đã triển khai hợp tác trên một số lĩnh vực cụ thê, trong đó đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận trong lĩnh vực hợp tác an ninh và tài chính - kinh tế.Hợp tác ASEAN+3 từ cuối năm 2005 tới nay Ở giai đoạn này , vị thế của ASEAN +3 trong Hợp tác Đông Á đã ít nhiều giảm xuống. Hợp tac ASEAN +3 chỉ còn là một trong các cơ chế của Hợp tác Đông A , mặc dù nó được thừa nhận là cơ chế chính _. Tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN+3 lần thứ 10 họp ở Cebu (Philippines) ngày 14/1/2007, vị thế của ASEAN +3 với tư cách là cơ chế chính đề đạt được mục tiêu thành lập Cộng đồng Đông A đã được khang định lại.
Ngoài ra, các nhà lãnh dao còn thảo luận về những điểm chính trong bản Tuyên bố Hợp tác Đông Á lần thứ hai dự kiến công bố nhân ky niệm 10 năm ngày thành lập Hợp tác ASEAN+3 vào cuối năm 2007 và triển khai xây dựng EAFTA. Trong những ky họp cấp cao kế từ năm 2005 đến nay, ASEAN+3 tiếp tục đưa ra các sáng kiến mới mở rộng hợp tác và thúc đây tiến trình xây dựng Cộng đồng Đông Á. Theo đó, nghiên cứu xây dựng EAFTA; thúc đây hợp tác tài chính; thúc đây và mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực nông nghiệp, giáo dục, thông tin, đối phó các thách thức an ninh phi truyền thống. Hợp tác kinh tế ASEAN+3 trong hơn 10 năm qua diễn ra trong bối cảnh, quan hệ giữa ASEAN và Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc đã có những bước phát triển vượt bậc, nhất là về chính trị, đối ngoại và an ninh.
Từ chỗ nghi ngờ, cảnh giác với Trung Quốc và Nhật Bản, đến nay ASEAN và Trung Quốc đã nâng tầm quan hệ lên mức “đối tác chiến lược và hợp tác toàn diện”; ASEAN cũng đã thiết lập quan hệ “đối tác chiến lược vì hoà bình và thịnh vượng” đối với Nhật Bản và Hàn Quốc.