Chương 1 BỐI CẢNH MIỀN NAM VIỆT NAM (1965-1975) VÀ CHÍNH SÁCH VIỆN TRỢ CỦA HOA KỲ 1. Nội tình miền Nam Việt Nam (1965-1975) 1.1 Tình hình chính trị, xã hội Sau khi Tổng thống Ngô Đình Diệm bị loại trừ, tình hình chính trị ở miền Nam ngày càng trở nên rối loạn, không ổn định. Từ năm 1964 các cuộc đảo chính, thanh trừng diễn ra liên tục. Phong trào đấu tranh chính trị ngày càng sôi nổi từ nông thôn đến thành thị.
Chỉ tính từ tháng 11-1963 đến giữa năm 1965 ở Sài Gòn đã có tới 10 cuộc đảo chính. Cho đến năm 1965, Hoa Kỳ ngày càng sa lầy vào cuộc chiến tranh Việt Nam. Trong khi đó, miền Bắc liên tiếp dành đƣợc những thắng lợi về mặt quân sự và đi đến việc đánh bại chiến lƣợc Chiến tranh đặc biệt của Hoa Kỳ. Đại tƣớng Westmoreland trong cuốn “Tƣờng trình của một quân nhân” đã nhận xét “Hà Nội đã khuynh đảo Nam Việt Nam.
Chính phủ Sài Gòn sắp sụp đổ. Hành quân cấp trung đoàn của Việt cộng có thể ở bốn quân khu, hành quân cấp tiểu đoàn ở khắp các tỉnh. Tỷ lệ so sánh giữa Việt Nam Cộng hòa và quân đội giải phóng đã đƣợc đảo ngƣợc, theo chiều hƣớng bất lợi cho lực lƣợng đồng minh” [21; tr. Và trong bức điện gửi Johnson ngày 6-1-1965, Đại tƣớng Maxwell Taylor (lúc đó là Đại sứ Mỹ ở miền Nam) cũng nhận định: “chúng ta (tức Mỹ) hiện đang trên con đƣờng thất bại” nếu “không có hành động tích cực nào vào lúc này có nghĩa là chấp nhận sự thất bại trong một tƣơng lai rất gần” [21, tr.
Để cứu vãn tình thế, Mỹ buộc phải chuyển sang áp dụng chiến lƣợc “chiến tranh cục bộ”, mở các cuộc phản công mùa khô ở trên chiến trƣờng miền Nam và gia tăng chiến tranh bằng không quân và hải quân, đánh phá hoại miền Bắc. Các trận chiến lớn, khốc liệt diễn ra ngày càng nhiều trong các năm 1966 và 1967, tiêu 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com biểu nhƣ trận Cedar Falls, Chiến dịch Attleboro - ở chiến khu Dƣơng Minh Châu, Chiến dịch Junction City ở chiến khu C của Quân Giải phóng miền Nam. , tuy nhiên Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa vẫn không “bình định” đƣợc miền Nam Việt Nam. Tết Mậu thân năm 1968, Quân Giải phóng đã tiến hành tổng tiến công khắp miền Nam, đánh vào hầu hết các thành phố, thị xã và căn cứ quân sự của đối phƣơng.
Cuộc Tổng tiến công long trời lở đất đã làm rung chuyển thêm nền chính trị Sài Gòn và chính trị Mỹ. Nó đã gây ra “cú sốc” cực mạnh đến nhân dân Mỹ và dƣ luận thế giới. Đó là một trong những yếu tố quan trọng nhất đẩy Mỹ tới một quyết định: không đi tiếp chƣơng trình “phản ứng linh loạt” mà rút lui trong danh dự. Từ năm 1969 đến năm 1975, Hoa Kỳ triển khai chiến lƣợc “Việt Nam hóa chiến tranh”, rút dần quân Mỹ về nƣớc và giúp chính quyền Sài Gòn xây dựng quân đội theo kiểu Mỹ.
Mỹ sẽ hỗ trợ cho miền Nam Việt Nam bằng không quân, với cƣờng lực tối đa trong một thời gian. Sau đó, kể cả sự yểm trợ bằng không quân cũng sẽ chấm dứt, để quân đội miền Nam Việt Nam tự đảm đƣơng cuộc chiến, đồng thời tăng cƣờng viện trợ gấp bội cả về quân sự và kinh tế cho chính quyền Sài Gòn. Trong giai đoạn ác liệt nhất này, chiến tranh đã trở thành mối “bận tâm” nhất của chính quyền Việt Nam Cộng hòa, mọi nỗ lực đều tập trung vào quân sự, do đó vấn đề kinh tế ít đƣợc coi trọng đầu tƣ. Áp lực chiến tranh tới nền sản xuất Cuộc chiến tranh Việt Nam kéo dài trong suốt hơn 20 năm đã tạo ra áp lực lớn và ảnh hƣởng sâu sắc đến nền kinh tế miền Nam.
Trƣớc hết nó tạo ra sự phân phối không hợp lý của các ngành kinh tế, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghiệp. Cho đến trƣớc năm 1965 tại miền Nam Việt Nam đã hình thành nhiều nhà máy xí nghiệp, nhiều khu công nghiệp và khu chế xuất. Tuy nhiên, để đảm bảo điều kiện 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com an ninh, tránh sự phá hoại của chiến tranh, những khu công nghiệp này tập trung chủ yếu tại các đô thị lớn, xa vùng nguyên liệu (là những vùng nông thôn nhƣ Đồng bằng Sông Cửu Long), do vậy, hiệu quả sản xuất không cao. Hơn nữa, những cuộc đánh phá của Quân đội giải phóng nhằm vào đƣờng sá, cầu cống, đã khiến cho việc chuyên chở tiếp tế nguyên liệu đến các nhà máy, khu công nghiệp gặp nhiều khó khăn.
Chiến tranh cũng ảnh hƣởng xấu đến những nguồn lực phát triển kinh tế trong đó đặc biệt là nguồn nhân lực. Nguồn nhân lực là nguồn tài nguyên căn bản và là một khía cạnh chính yếu của nguồn lực quốc gia. Đầu năm 1965 số nhân công trong các lĩnh vực sản xuất luôn ở trong tình trạng khan hiếm, đặc biệt là nhân công chuyên môn. Tình trạng khan hiếm nhân công có thể nhận thấy rõ rệt từ năm 1966 cho tới năm 1969.
Điều này là do nhu cầu quốc phòng cùng với sự phát triển các dịch vụ xây dựng là cơ sở quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam. Năm 1966, Việt Nam Cộng hòa có khoảng 16,5 triệu dân, trong đó quân đội đã thu hút một số lƣợng nhân lực quan trọng khoảng 680. Đến cuối năm 1971 số này đã tăng lên gần tới 1.000 ngƣời [179, tr. Theo tính toán, cứ 12 ngƣời có 1 ngƣời tòng quân nên Việt Nam Cộng hòa đã trở thành một nƣớc có một đội quân lớn nhất thế giới [138, tr.
Các xƣởng, nhà máy trong các “sở Hoa Kỳ” cũng sử dụng một nhân công tƣơng đối cao khoảng 125.000 ngƣời [44, tr.108], thậm chí các cơ sở Hoa Kỳ đã phải sử dụng một lƣợng lớn nguồn lực lao động nữ. Theo cuộc kiểm tra của Bộ Lao Động vào năm 1970 về tình trạng nhân công tại 11 xí nghiệp tƣ, trong đó có 77.000 nhân công, tỷ lệ nữ nhân công đã gia tăng từ 24% năm 1966 lên 40% năm 1969 [44, tr. Hơn thế nữa, dƣới tác động của cuộc chiến tranh, lực lƣợng lao động của Việt Nam Cộng hòa bị xáo trộn dữ đội, sự phân bố lao động bị lệch hƣớng. Chiến tranh Hay còn gọi là “Khu vực Hoa Kỳ”, là các cơ quan, trụ sở, nhà máy do Hoa Kỳ lập ra 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com buộc nhiều cƣ dân nông thôn vào thành thị, mà nhiều nhà nghiên cứu gọi là quá trình “đô thị hóa cƣỡng bức” [56, tr.
Trong khi đó, lực lƣợng lao động trong các ngành dịch vụ, thƣơng nghiệp đã chiếm 24,5% lực lƣợng lao động năm 1966, 28% năm 1969, và tăng lên 34% năm 1970 [149, tr. Số ngƣời thất nghiệp năm 1974 ở nông thôn và thành thị đều xấp xỉ mức 20% dân số hoạt động ở miền Nam [30, tr. Chiến tranh là một trong những nhân tố làm ảnh hƣởng đến tốc độ tăng trƣởng kinh tế của Việt Nam Cộng hòa. Giai đoạn 1955-1960 là giai đoạn hầu hết các nhà kinh tế gia đều cho rằng đây là thời kỳ “ổn định” tạm thời của nền kinh tế miền Nam (Phong 2005; Sen 2005).
Kinh tế Việt Nam Cộng hòa phát triển tƣơng đối nhanh, tổng sản lƣợng quốc gia tăng 5%/năm [138, tr.4], giá cả tăng không đáng kể, ngân sách đạt mức ổn định. Trong lĩnh vực công nghiệp, nhiều cơ sở công nghiệp quan trọng đã đƣợc xây dựng, một số ngành không bị hàng nhập khẩu cạnh tranh thì phát triển tƣơng đối khá. Vốn tƣ bản nƣớc ngoài đầu tƣ vào thời gian này gấp 2,12 lần số vốn đầu tƣ trong 5 năm ngay sau đó [56, tr. Tuy nhiên từ giai đoạn “chiến tranh đặc biệt” (1960-1964), mức tăng trƣởng kinh tế giảm sút hơn so với thời kỳ trƣớc, trung bình 2,2% mỗi năm.
Ngân sách bắt đầu thiếu hụt từ 1 tỉ đồng miền Nam năm 1961 đến 12 tỉ đồng miền Nam ($VN) vào năm 1964, trong khi đó khối tiền tệ gia tăng 10 tỉ đồng trong thời gian này. Hậu quả là giá cả trong thời gian này đã tăng lên 20% tức là bình quân 4% mỗi năm [138, tr. 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. So sánh biến chuyển của khối tiền tệ và giá cả (1955 - 1965) 50 160 45 140 40 Chỉ số giá tiêu thụ 120 35 Khối tiền tệ 30 100 Khối tiền tệ (tỷ $VN) 25 80 20 Chỉ số giá tiêu thụ 60 15 40 10 5 20 0 0 1955 1956 1957 1958 1959 1960 1961 1962 1963 1964 1965 Năm Nguồn : Đặng Phong, Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945- 2000, Nxb Khoa học xã hội, tập 1, sđd, tr 930.
Mặc dù viện trợ kinh tế ở giai đoạn này gần 200 triệu đôla hàng năm nhƣng nền kinh tế trở nên sa sút hơn những năm trƣớc [49, tr. Lạm phát ngày càng tăng cao, năm 1962 lạm phát 3,9 tỉ đến năm 1964 lạm phát 6,4 tỉ $VN. Năm 1960 miền Nam xuất cảng đƣợc 84,5 triệu đôla, đến năm 1964 chỉ còn 48,4 triệu và năm 1965 là 35,5 triệu. Năm 1960 xuất khẩu còn bù đƣợc 34% nhập khẩu nhƣng đến năm 1964 tỷ lệ đó tụt xuống còn 16,4%.
Năm 1960 miền Nam xuất đƣợc 350 nghìn tấn gạo nhƣng đến năm 1964 miền Nam chỉ còn xuất đƣợc 48 nghìn tấn gạo và đến năm 1965 miền Nam phải nhập 129 nghìn tấn gạo [49, tr. Giai đoạn từ năm 1965-1969, cơ cấu kinh tế Sài Gòn đã có sự thay đổi lớn do mức độ ác liệt của cuộc chiến tranh và hơn thế nữa là do sự có mặt của nửa triệu quân Đồng minh ở miền Nam Việt Nam. Từ những nhu cầu cho chi phí quân sự ngày một gia tăng, ngân sách nhà nƣớc bắt đầu thâm hụt với những con số ngày càng lớn: từ 29 tỉ $VN (1965) đến 42 tỉ $VN (1967). Khối tiền tệ đã gia tăng 55 tỉ tức là 204%, hay trung bình mỗi năm tăng 68%.
Vật giá cũng vì đó mà tăng mạnh 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 189%, tức trung bình mỗi năm là 63%. Trong lúc đó mức phát triển kinh tế trung bình chỉ tăng 3,9% [138, tr. Sau sự kiện Tết Mậu thân, gánh nặng ngân sách của chính phủ Việt Nam Cộng hòa càng trở nên nặng nề. Thiếu hụt ngân sách tăng lên 195 tỉ $VN trong vòng 3 năm, trung bình mỗi năm 65 tỉ $VN.
Khối tiền tệ gia tăng đến 81 tỉ $VN, tức là 100%, trung bình 33% một năm. Vật giá tăng trung bình 39%/năm [138, tr. Trong khi đó, việc rút đi của hơn nửa triệu quân Mỹ đã để lại một khoảng trống khổng lồ trong đời sống kinh tế miền Nam.