CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU: Từ những năm 2000, vấn đề đọc truyện thiếu nhi ở nước ta cũng bắt đầu được đề cập trong một số báo cáo khoa học giáo dục, trong một vài chuyên đề ở trường học, một số bài báo (Tuổi Trẻ, Thanh Niên)… Nhà báo Lê Chí (Báo văn hóa nghệ thuật) có bài đề cập đến vị trí và đối tượng của truyện tranh, nhất thiết phải tổ chức lại hệ thống phát hành theo đối tượng đó (Số ra ngày 30/4/2004). Trong những năm gần đây, việc xuất bản truyện tranh nhìn ở mặt thị trường có vẻ sôi động, chủ yếu với truyện tranh nhiều tập nước ngoài. Lẽ nào đất nước 4000 năm văn hiến của nước ta lại không đủ đề tài cho nhiều tập truyện tranh hấp dẫn? Có điều băn khoăn là đội ngũ những người sáng tạo nên những cốt truyện đó.
Thực sự chúng ta rần cần nhiều nhà văn, họa sĩ có tài trên lĩnh vực này. Đẩy mạnh phát triển loại hình nghệ thuật truyện tranh, đáp ứng nhu cầu không nhỏ cho các em thiếu nhi và cho mọi người, nhất là bà con nông dân ở vùng nông thôn rộng lớn đang khát khao hưởng thụ sản phẩm văn hóa tinh thần này. Cũng như mọi dự tính khác về văn hóa nghệ thuật, truyện tranh cần được nhìn nhận 1 cách toàn diện hơn về tính hệ thống và sự đa dạng của đề tài. Ví dụ: truyền thống chinh phục thiên nhiên và chống ngọai xâm của đất nước và từng địa phương từ xưa đến nay; gương anh hùng, gương những người lao động; tính hiếu thảo với ông bà cha mẹ; lòng dũng cảm, thuơng người họan nạn, khó khăn; đức tính vượt khó, ham học, lễ phép, siêng năng… (kể cả truyện ngụ ngôn, trào lộng, châm biếm, thần thoại trong và ngoài nước) Truyện tranh cũng là sách – những cuốn sách bằng tranh.
Có thể nội dung của nó được cấu tạo, thể hiện đơn giản hơn, nhưng tính sâu sắc và triết lý thì không thua kém chút nào. Vì vậy, nó cần được những người làm tranh hết sức có trách nhiệm, từ khâu chọn đề tài, kết cấu câu chuyện và nhất là khi thể hiện bằng đường nét và màu sắc. Ở đây không cho phép sự dễ dãi, xem nhẹ đối tượng của mình. Bởi hơn thể loại nào khác, sự gắn bó giữa nội dung và hình thức ở truyện tranh phải đạt đến mức cao 10 nhất, có như thế thì mới hấp dẫn dược người xem, nhất là người xem đạt yếu tố giải trí là phần trội hơn.
Theo báo Thể Thao - Văn Hóa có viết: Nhà xuất bản Giáo Dục đã phát động “Ý tưởng về bộ sách giáo khoa bằng tranh” trước việc dư luận xôn xao về những lỗ hổng kiến thức lịch sử của thế hệ trẻ. Cuộc thi thu hút đối tượng rộng rãi trong và ngoài nước. Tác phẩm dự thi có 2 loại: loại chỉ có phần truyện (phần chữ), loại tác phẩm dự thi này nếu đoạt giải sẽ được họa sĩ vẽ bổ sung phần tranh; loại còn lại là truyện cả tranh lẫn chữ. Kỳ vọng của những người tổ chức cuộc thi là sẽ chọn được tác phẩm tương ứng với kiến thức lịch sử (sự kiện, nhân vật) có trong chương trình sách giáo khoa (SGK) tiểu học và THCS.
Nếu làm được điều này, những tập truyện tranh lịch sử sẽ giống như tài liệu bổ trợ hữu hiệu cho SGK trong việc dạy lịch sử cho học sinh. Tuy nhiên đây là việc không hề đơn giản. Nhà sử học Dương Trung Quốc cho biết: trong một cuộc điều tra từ cuối những năm 1990, với gần 2000 đối tượng được hỏi ở lứa tuổi học sinh, sinh viên, chỉ có 39% biết rõ lai lịch của Hùng Vương, 65% biết rõ lai lịch của Michael Jackson, Maradona. Nhà báo Lam Điền (báo tuổi trẻ) có bài viết: “Chuyện đọc của trẻ là vấn đề của toàn xã hội”.
Chủ đề bài viết nói về buổi hội thảo được Hội nhà văn TP.HCM quy tụ các cây bút viết cho thiếu nhi nhiều thế hệ tham gia sáng ngày 27/10/2005 với tên gọi “Văn học thiếu nhi thời hiện đại”, mục đích bàn bạc xem văn học thiếu nhi của chúng ta đang ở tấm mức nào và các nhà văn sẽ làm gì với khái niệm văn học thiếu nhi thời hiện đại. Phía các nhà văn – tức là những người lớn tham gia hội thảo đều thống nhất rằng hiện nay các em học sinh tiểu học đang ngày càng xa rời văn học. Bởi vì các em thiếu nhi đọc sách, là vấn đề cần quan tâm của cả xã hội. Nhà văn có viết cho thiếu nhi thì cũng là người giữ vai trò làm ra sản phẩm thôi.
Cô giáo Lưu Thị Lương bấm đốt ngón tay tính rằng: trẻ con hiện nay học văn kém, cô giáo trên lớp toàn bắt học thuộc lòng, khiến các em không đọc hết các tác phẩm kinh điển trích dạy trong sách giáo khoa, mà không đọc các tác phẩm đó, cộng với không có thời gian (do học quá nhiều) nên không tìm đọc thêm các tác phẩm khác. Kết quả là các em ít đọc các tác phẩm văn học của các nhà văn đang hội thảo ở đây. Theo kết quả điều tra bỏ túi của câu lạc bộ văn học trường đại học Khoa Học Xã Hội &Nhân Văn TP.HCM thì có đến 70,7% trẻ em được hỏi cho biết truyện tranh là thể loại thường đọc của các em. Truyện chữ thì Harry Potter là một minh chứng của việc truyện chữ thu hút thiếu nhi Việt Nam.
Nhà 11 văn Lý Lan từ Mỹ về đã đến dự hội thảo và góp ý rằng: “Văn hoá đọc cho thiếu nhi cần xây dựng từ gia đình. Tại sao người lớn không đọc, lại bắt thiếu nhi đọc sách!”.Vậy mới thấy được vai trò và vị trí của gia đình quan trọng như thế nào trong việc định hướng cho trẻ em đọc sách và truyện. Tuy nhiên, nói về đề tài văn học thiếu nhi hay truyện cho trẻ em, dẫu là chỉ ở Việt Nam hay hẹp hơn là tại TP.HCM, thì vẫn chưa có những cuộc khảo sát hay nghiên cứu khoa học làm cơ sở cho cuộc trao đổi. Hội thảo chưa làm được việc này, do vậy các nhà văn đều chủ yếu nói theo kinh nghiệm cá nhân và chưa nắm bắt riêng cho nó.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN: 2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN Nhóm chúng tôi đã sử dụng lý thuyết xã hội hoá là lý thuyết nền tảng xuyên suốt trong quá trình nghiên cứu.1 LÝ THUYẾT XÃ HỘI HÓA Xã hội hóa là một khái niệm, một phạm trù cơ bản của xã hội chỉ quá trình cá thể tiếp thu, học tập nền văn hoá mà cá nhân đó được sinh ra và sống trong đó, nghĩa là họ lĩnh hội được các kinh nghiệm xã hội, học những cái gì nên làm, phải làm và những cái gì không được làm để đáp ứng các vai trò xã hội của mỗi cá nhân. Thực chất của xã hội hoá cá nhân là để thích ứng với môi trường sống của họ. Các tác nhân xã hội chủ yếu là gia đình, trường học, nhóm bạn bè, thông tin đại chúng. Thông qua quá trình xã hội hoá mà nền văn hoá được truyền thụ, tiếp nối từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Xã hội hoá bao gồm tất cả quá trình tiếp biến văn hoá, giao tiếp và học hỏi, qua đó các cá nhân phát triển bản chất xã hội và có khả năng tham gia đời sống xã hội. Theo Andreeva xã hội hoá là quá trình hai mặt : “Một mặt cá nhân tiếp nhận kinh nghiệm xã hội bằng cách thâm nhập vào mội trường xã hội, vào hệ thống các quan hệ xã hội. Mặt khác cá nhân tái sản xuất một cách chủ động hệ thống các mối quan hệ xã hội thông qua chính việc họ tham gia vào cá hoạt động và thâm nhập vào các mối quan hệ xã hội”. Sự học hỏi của cá nhân không chỉ dừng ở tuổi thơ mà nó còn kéo dài suốt cả cuộc đời, bởi vì bản chất của con người không phải là cái gì đó đầy đủ và hoàn thiện 12 một lần là xong.
Sự hình thành bản chất con người là một quá trình con người không ngừng hoàn thiện để tồn tại trong xã hội luôn có sự chuyển biến.2 LÝ THUYẾT LỰA CHỌN HÀNH VI HỢP LÝ CỦA COLOMAN Lý thuyết hành vi cho rằng: “Khi một cá nhân nhận được một loạt kích thích từ bên ngoài thì không phải cá nhân ngay lập tức sẽ phản ứng lại tất cả mà sẽ tiến hành lựa chọn những kích thích nào cảm thấy phù hợp với bản thân, còn những kich thích nào tỏ ra không phù hợp, không mang lại lợi ích thì sẽ bị khước từ hoặc loại bỏ” Ảnh hưởng của việc đọc truyện tranh và truyện chữ đến với mỗi học sinh là khác nhau. Tuỳ theo sự phát triển tâm lý, trình độ nhận thức, hoàn cảnh gia đình, mối quan hệ với bạn bè, với môi trường xung quanh … mà cá nhân có những phản ứng, những lựa chọn khác nhau trước những vấn đề này. Nếu được giáo dục tốt từ nhỏ và được định hướng hợp lý thì các em sẽ có những suy nghĩ đúng đắn và khước từ những hành vi lệch chuẩn. Và ngược lại thì các em sẽ có những lựa chọn lệch chuẩn và dễ bị kích thích theo những khuôn mẫu của xã hội.3 LÝ THUYẾT XUNG ĐỘT Xung đột xã hội về mặt khách quan là không thể tránh khỏi trong bất kỳ cơ cấu xã hội nào.
Hơn thế nữa, chúng là điều kiện tất yếu của sự phát triển xã hội. Toàn bộ quá trình phát triển xã hội nằm ở xung đột và thoả thuận, hoà hợp và đối đầu. Chính bản thân cơ cấu xã hội với sự phân dị ngặt nghèo, chia thành giai cấp, tầng lớp xã hội, tập đoàn và cá thể. Cơ cấu xã hội càng phức tạp, xã hội càng phân dị, xã hội càng nhiều quyền tự do và đa nguyên thì nó càng nhiều lợi ích, mục đích giá trị bất đồng đôi khi còn loại trừ nhau và tương ứng với nó càng có nhiều nguồn xung đột tiềm ẩn.
Tuy nhiên, trong hệ thống xã hội phức tạp lại tồn tại nhiều khả năng và cơ chế hơn để giải quyết thành công mọi xung đột, tìm ra các thoả thuận. Vì vậy vấn đề của bất cứ xã hội, của cộng đồng xã hội nào là không cho phép hậu quả tiêu cực của xung đột, vận dụng xung đột là để giải quyết tốt mọi vấn đề nảy sinh. Mâu thuẫn thực chất là một trong số những kiểu tác động xã hội mà chủ thể và người tham gia trong đó là các cá thể đơn lẻ, các tập đoàn, các tổ chức xã hội. Tuy nhiên, sự tương tác xung đột tạo ra sự đối đầu giữa các bên, tức là hoạt động nhằm chống đối nhau.