Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬ VỀ VĂ HÓA DOA H GHIỆP VÀ Ả H HƯỞ G CỦA VĂ HÓA DOA H GHIỆP ĐẾ SỰ GẮ KẾT VỚI TỔ CHỨC CỦA GƯỜI LAO ĐỘ G 1. Khái niệm văn hóa Khái niệm văn hóa rất phong phú, vì vậy có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa. Dưới đây là một số khái niệm về văn hóa giúp ta có thể hiểu hơn. UN ESCO định nghĩa văn hóa là tập hợp các đặc trưng tiêu biểu về tinh thần, vật chất, tri thức và xúc cảm của xã hội hoặc một nhóm người trong xã hội; văn hóa không chỉ bao gồm văn học và nghệ thuật, mà còn cả phong cách sống, phương thức chung sống, các hệ giá trị, truyền thống và niềm tin (UN ESCO, 2001).
Về quan điểm văn hóa, N gười viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn.” (Hồ Chí Minh, 1995) Theo Giáo sư Trần N gọc Thêm “Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội.” (Thêm, 2006) Tóm lại, văn hoá là một hệ thống có ý nghĩa, bao gồm những biểu tượng, niềm tin, giá trị, phong tục tập quán, nếp sống,.dựa vào đó các thành viên trong cộng đồng nhận thức, có thể phân biệt được cái đúng và cái sai, cái tốt và cái chưa tốt, cái đạo đức và cái vô đạo đức; có thể phân biệt cái đẹp và cái xấu, cái hay và cái chưa hay,… Hệ thống ý nghĩa đó đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành tập thể, cộng đồng mà ở đó mọi thành viên có thể truyền cho nhau những nếp sống, biểu tượng, giá trị tốt đẹp; lên án, bài trừ những cái chưa tốt, đi ngược với truyền thống, đạo đức con người. SVTH: Trần Thúy Hằng 6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Thạc sĩ Bùi Văn Chiêm 1.
Khái niệm về văn hóa doanh nghiệp Cũng như văn hóa, khái niệm về văn hóa doanh nghiệp cũng rất phong phú và tùy theo cách nhìn nhận của mỗi tác giả mà có những khái niệm khác nhau. Dưới đây là một số khái niệm về văn hóa doanh nghiệp giúp ta có thể hiểu hơn. N hà xã hội học người Mỹ N. Schein (1985), ông đưa ra định nghĩa văn hóa doanh nghiệp như sau: “Văn hoá doanh nghiệp là tập hợp của sự đồng nhất và lâu bền một cách tương đối các giá trị, niềm tin, phong tục, truyền thống và thực hành, được chia sẻ giữa các thành viên trong tổ chức, được những thành viên mới tham gia tổ chức học tập và được lưu truyền từ thế hệ nhân sự này sang thế hệ nhân sự tiếp theo.
(1992): “Văn hóa doanh nghiệp thể hiện tổng hợp các giá trị và cách hành xử phụ thuộc lẫn nhau phổ biến trong doanh nghiệp và có xu hướng tự lưu truyền, thường trong thời gian dài” Hay theo tác giả Cameron, K. (2011): “Văn hóa doanh nghiệp được hiểu như những đặc điểm, phN m chất đặc trưng của tổ chức để phân biệt với tổ chức khác trong cùng một lĩnh vực hoạt động”. Ở Việt N am nhiều nhà nghiên cứu, học giả cũng đưa ra quan điểm của mình về văn hóa doanh nghiệp: Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Xuân N am (1996): “Văn hóa doanh nghiệp là hệ thống các ý nghĩa, giá trị niềm tin chủ đạo, nhận thức và phương pháp tư duy được mọi thành viên của một tổ chức đồng thuận và có ảnh hưởng ở phạm vi rộng đến cách thức hoạt động của từng thành viên.” Phó Giáo sư, Tiến sĩ Dương Thị Liễu cho hay: “Văn hóa doanh nghiệp là toàn bộ các giá trị tinh thần mang đặc trưng riêng biệt của doanh nghiệp có tác động tới tình cảm, lý trí và hành vi của tất cả thành viên doanh nghiệp.” (Liễu, 2008) N hư vậy có thể hiểu văn hoá doanh nghiệp là tổng hợp những giá trị tinh thần mà tổ chức tạo ra tác động tới tình cảm, lý trí và hành vi của các thành viên cũng như sự phát triển bền vững của tổ chức. Văn hoá doanh nghiệp gắn với đặc điểm từng dân tộc, đất nước, trong từng giai đoạn phát triển cho đến từng nhà lãnh đạo, từng người lao động.
Văn hoá doanh nghiệp là bàn đạp tác động đến mức độ gắn kết của người lao SVTH: Trần Thúy Hằng 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Thạc sĩ Bùi Văn Chiêm động với tổ chức; là yếu tố tạo nên sự khác biệt giữa doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác. Sự gắn kết của người lao động với tổ chức 1. Khái niệm về sự gắn kết của người lao động với tổ chức Để có thể nghiên cứu một cách chính xác về sự ảnh hưởng của văn hoá doanh nghiệp đến sự gắn kết với tổ chức của người lao động. Trước hết, ta cần hiểu thế nào là sự gắn kết với tổ chức của người lao động.
Các nhà nghiên cứu trên thế giới đã đưa ra các quan niệm khác nhau về sự gắn kết với tổ chức. Theo Steers (1977): “Sự gắn bó tổ chức cho thấy “mong muốn thực hiện nỗ lực lớn vì lợi ích của tổ chức” và “mong muốn duy trì một mối quan hệ tốt và là thành viên chặt chẽ của tổ chức.” Hay “Sự gắn bó tổ chức là sức mạnh của sự đồng nhất của cá nhân với tổ chức và sự tham gia tích cực trong tổ chức; những nhân viên có sự gắn bó với tổ chức ở mức độ cao sẽ hài lòng hơn với công việc của họ, sẽ rất ít khi rời bỏ công việc và gắn bó với tổ chức hơn. (1996) định nghĩa rằng: “Sự gắn bó là biểu hiện của cá nhân với tổ chức thể hiện lòng trung thành và niềm tin vào các giá trị của tổ chức.” N goài ra, theo quan điểm của Kalleberg và cộng sự (1996): “Gắn bó với tổ chức được định nghĩa như là sự sẵn lòng dành hết nỗ lực cho tổ chức, sự gắn bó chặt chẽ với tổ chức và tìm kiếm để duy trì mối quan hệ với tổ chức.” N hư vậy, Sự gắn bó với tổ chức là thể hiện sự gắn kết của một cá nhân với một tổ chức, một doanh nghiệp, một công việc; tích cực thực hiện các công việc để hoàn thành tốt các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra; trung thành với tổ chức mình đang làm việc. N hững cá nhân có mức độ gắn bó với tổ chức, doanh nghiệp cao dễ hài lòng với công việc của họ dẫn đến ít rời bỏ tổ chức; những cá nhân có mức độ gắn bó thấp sẽ dễ dàng từ bỏ tổ chức để đến với một tổ chức khác.
Thành phần của sự gắn kết của người lao động với tổ chức Theo Meyer J & Allen N (1997) đưa ra mô hình ba yếu tố của sự cam kết gắn bó với tổ chức như sau: SVTH: Trần Thúy Hằng 8 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Thạc sĩ Bùi Văn Chiêm - Gắn bó tình cảm: nhân viên trung thành với tổ chức xuất phát từ tình cảm thật sự của họ. Đó là tình cảm gắn bó, đồng thuận và bị lôi cuốn vào trong tổ chức. - Gắn bó bắt buộc: nhân viên sẽ ở lại với tổ chức dù có nơi khác trả lương cao hơn, điều kiện làm việc tốt hơn. Một nhân viên có mức độ gắn bó bắt buộc được xác định là sẵn sàng ở lại tổ chức bởi những lợi ích cho chính bản thân họ như mối quan hệ tốt với các đồng nghiệp, các khoản đầu tư hưu trí và đầu tư nghề nghiệp, kỹ năng làm việc họ đã tích lũy được trong thời gian làm việc tại đây,.Trong trường hợp họ rời khỏi tổ chức, họ sẽ cảm thấy bản thân mất đi những lợi ích này, chi phí phải trả cao.
- Gắn bó quy chuN n: trung thành với tổ chức vì những chuN n mực đạo đức mà họ theo đuổi, có nghĩa vụ tiếp tục với công việc. Dưới góc độ quản trị và hành vi tổ chức, thái độ bao hàm cảm xúc, hành vi và nhận thức (Robbins & Judge, 2013) sự gắn kết gồm có 3 thành phần dưới đây: - Gắn kết nhận thức thể hiện niềm tin của nhân viên đối với cấp trên, với đồng nghiệp và với tổ chức. Họ thấu cảm và tin tưởng rằng tổ chức là nơi xứng đáng để họ làm việc và cống hiến. - Gắn kết cảm xúc là những cảm xúc tích cực của người lao động đối với công việc và đối với tổ chức.
Cảm xúc tích cực này thể hiện thông qua sự hài lòng và đam mê với công việc. - Gắn kết hành vi thể hiện thông qua sự nỗ lực làm việc của người lao động cho tổ chức. Họ phấn đấu thực hiện công việc với kết quả cao với sự nhiệt huyết, tận tình và trách nhiệm. Mối quan hệ giữa văn hóa doanh nghiệp và sự gắn kết với tổ chức của người lao động Văn hóa doanh nghiệp có thể tác động tiêu cực hoặc tích cực đến người lao động đang làm việc tại công ty.
Văn hóa có tác dụng nâng cao sự gắn kết với tổ chức của người lao động và ảnh hưởng tới hành vi, nhận thức, cảm xúc của họ về công ty. Một tổ chức có văn hóa tốt sẽ có cơ hội thu hút được những con người tốt, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và cống hiến hết mình vì mục tiêu lâu dài của tổ chức. Văn hóa doanh nghiệp tốt sẽ là nơi tạo ra môi trường làm việc tốt, tạo nên sự phấn khởi cho người lao động. Một môi trường văn hóa tốt, ở đó đồng nghiệp luôn vui SVTH: Trần Thúy Hằng 9 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Thạc sĩ Bùi Văn Chiêm vẻ, hỗ trợ, giúp đỡ nhau trong công việc; lãnh đạo luôn tạo điều kiện làm việc tốt nhất cho người lao động thì đó cũng là một điểm nhấn để người lao động có thể gắn bó lâu dài cùng tổ chức.
Văn hóa tốt làm gia tăng sự hài lòng, lòng trung thành, sự cam kết gắn bó và hợp tác của đội ngũ người lao động. Kết quả là tăng năng suất lao động.