CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG 1. Phát triển nguồn nhân lực Khoa học và công nghệ 1. Khái niệm nguồn nhân lực khoa học & công nghệ Thuật ngữ nguồn nhân lực Khoa học và công nghệ hàm chỉ đội ngũ lao động có trình độ đào tạo cao trở lên.
Thuật ngữ này đôi khi đồng nhất với thuật ngữ nhân lực Khoa học và công nghệ. Trường hợp đồng nhất hai thuật ngữ đó là cách tiếp cận của Tổ chức Giáo dục Khoa học Văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO), nghĩa là nhân lực Khoa học và công nghệ bao gồm đội ngũ có tay nghé/ trình độ đang hoạt động trong nền kinh tế. Việc đưa ra định nghĩa về nhân lực Khoa học và công nghệ hiện nay còn khác nhau trên thế giới. Việc định nghĩa về nhân lực Khoa học và công nghệ xuất phát từ: - Mục tiêu của việc sử dụng định nghĩa này (dé ra chính sách hay để thông kê, dé lay số liệu tính toán cầu và cung nhân lực.
- Khả năng thu thập được số liệu về chúng. - Tính so sánh quốc tế. Định nghĩa của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đưa ra định nghĩa về nguồn nhân lực dựa trên trình độ và công việc. Theo OECD, nguồn nhân lực Khoa học và công nghệ bao gồm những người đáp ứng được một trong các điều kiện sau: 1) Đã tốt nghiệp trường đảo tạo trình độ nhất định nào đó về một chuyên môn khoa học và công nghệ thuộc trình độ 3 trong hệ giáo dục đảo tạo trở lên.
[15] 2) Không được dao tao chính thức như đã nói ở điều 1) nhưng làm một nghề trong lĩnh vực Khoa học và công nghệ mà đòi hỏi trình độ trên. Kỹ năng tay nghề ở day được dao tao tai nơi làm việc. Thuật ngữ khoa học, theo OECD được hiểu theo nghĩa rộng là “tri thức” hay là “tạo ra tri thức”. Thuật ngữ công nghệ là “vận dụng tri thức”, còn theo nghĩa hẹp hơn là các công cụ, kỹ thuật để thực hiện các kế hoạch nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra.
Như vậy, theo OECD, tổng hợp nhân lực theo cả hai tiêu chí bao gồm: e Những người có bằng cấp thuộc trình độ 3 trở lên và làm việc trong lĩnh vực Khoa học và công nghệ; e Những người có bằng cấp thuộc trình độ 3 trở lên và không làm việc trong lĩnh vực Khoa học và công nghệ; e Những người được quy đổi trình độ tương đương trình độ 3 làm việc trong lĩnh vực Khoa học và công nghệ nhưng không có bằng cấp. Ngoài ra còn có những người làm việc trong lĩnh vực Khoa học và công nghệ với trình độ kỹ năng thấp, không có mức ngang bang với những người có trình độ tay nghề cũng được tính vào nguồn nhân lực Khoa học và công nghệ. Như vậy, theo cách định nghĩa này, tất cả những ai có bằng cấp cao đăng, đại học trở lên bất kế họ có sử dụng kiến thức đã học vao nghề của mình hay không, hay kiến thức của họ có được bổ túc sau một thời gian dai hay không đều được coi là nguồn nhân lực Khoa học và công nghệ. Tài xế tặc xi có bang đại học, cán bộ có bằng cấp đã nghỉ hưu cũng được coi là nguồn nhân lực Khoa học và công nghệ.
Nguồn nhân lực Khoa học và công nghệ ở đây được hiểu theo nghĩa rất rộng, đề cập đến toàn bộ đội ngũ tiềm năng chứ không chỉ đội ngũ hay vốn nhân lực Khoa học và công nghệ đang tham gia hoạt động Khoa học và công nghệ. Ý tưởng dang sau khái niệm này là, tuy rằng những người có bang cấp mà không hoạt động Khoa học và công nghệ, nhưng nếu cần thiết, lúc nào đó vẫn có thé huy động họ vào hoạt động Khoa học và công nghệ. Những người về hưu với độ tuổi ngày càng cao sẽ rút dần khỏi lực lượng tham gia thị trường nhân lực Khoa học và công nghệ, nhưng họ vẫn có thể được huy động/ mời 10 làm chuyên gia tư vân. Có rât nhiêu ý kiên xung quanh độ tuôi của nguôn nhân lực Khoa hoc và công nghệ.
Các chuyên gia của OECD dé xuât là chỉ nên giới hạn đên độ tuôi 70, và có phương án khác, thì ưu tiên phương án với giới hạn thấp hơn 70 hơn là phương án giới hạn tuổi cao hơn 70. Một vấn đề khác nữa trong định nghĩa này về nguồn nhân lực Khoa học và công nghệ là những người không có trình độ tay nghề nhưng làm việc trong lĩnh vực Khoa học và công nghệ được đưa vào danh sách nguồn nhân lực Khoa học và công nghệ ngay từ ngày đầu tiên họ tham gia làm việc. Các chuyên gia OECD cho rằng, không nên tính những người này là nguồn nhân lực Khoa học và công nghệ, và chỉ được tính khi họ có được kinh nghiệm thỏa đáng. Tuy nhiên, lại nảy ra vấn đề thật khó xác định mức kinh nghiệm “thỏa đáng”.
Việc xác định nhân lực Khoa học và công nghệ của môi người là tùy thuộc vào ý đô chiên lược và chính sách, hệ thông giáo dục và đảo tạo của từng nước. Phát triển nguồn nhân lực Khoa học và công nghệ Về khái niệm của phát triển nguồn nhân lực (NNL), cũng có nhiều cách hiểu và tiếp cận khác nhau. Theo tác giả Nadle đưa ra định nghĩa về phát triển NNL là “làm tăng kinh nghiệm học được trong một khoảng thời gian xác định dé tăng cơ hội nâng cao năng lực thực hiện công việc”. Theo Tổ chức văn hóa-khoa học-giáo dục Liên hiệp quốc : phát triển NNL là làm cho toàn bộ sự lành nghề của dân cư luôn phù hợp với phát triển của đất nước.
Còn theo Tổ chức Lao động Thế giới (ILO), phát triển NNL bao gồm đào tạo, phát triển năng lực và sử dụng năng lực đó vào làm việc có hiệu quả. Theo Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hiệp quốc : “Phát triển nguồn nhân lực Khoa học và công nghệ là sự phát triển con người một cách hệ thống như là chủ thể và khách thé của sự phát triển quốc gia, nó bao gồm toàn bộ các khía cạnh kinh tê và công nghệ, trong đó đê cập đên sự nâng cao khả năng 11 của con người, nâng cao năng lực sản xuât, khả năng sáng tạo, khuyên khích các chức năng lãnh đạo thông qua giáo duc, đào tạo và nghiên cứu” [10; 49]. Theo định nghĩa của Hiệp hội Mỹ, phát triển nguồn nhân lực Khoa học và công nghệ nghĩa là sử dụng một cách tổng hợp các hoạt động đào tạo và phát triển, phát triển tổ chức, phát triển nghề nghiệp hoặc phát triển cá nhân hay tổ chức/ cơ quan[{ 10; 59]. Đa phần các nhà nghiên cứu về NNL và quản trị gia quan niệm phát triển và dao tạo NNL có những điểm tương đồng, chúng đều có các phương pháp tương tự nhằm tác động lên quá trình học tập để nâng cao kiến thức, kỹ năng thực hành.
Tuy nhiên, đào tạo khác với phát triển ở chỗ đào tạo chú trọng vào công việc hiện tại của cá nhân, giúp cá nhân có ngay được kỹ năng cần thiết để thực hiện tốt công việc hiện tại. Còn phát triển nhằm chú trọng lên các công việc tương lai, chuẩn bị cho cá nhân những kiến thức, kỹ năng cần thiết khi được thăng tiến lên vị trí mới, đòi hỏi những kiến thức và kỹ năng mới. Nhóm chức năng thu hút nguồn nhân lực KH&CN. Đây là công việc liên quan đến đảm bảo số lượng và chất lượng nguồn nhân lực KH&CN phù hợp với yêu cầu cho phát triển của ngành/địa phương/tổ chức hay của cơ quan thông qua thu hút, tuyển dụng, chọn lựa đúng người, đúng việc và có kết quả.
Nhóm chức năng đào tạo, phát triển: Nhóm này liên quan đến khía cạnh nâng cao năng lực của nhân lực, đảm bảo cho nhân lực trong tô chức có kiến thức, kỹ năng, trình độ lành nghề cần thiết dé hoàn thành tốt các công việc được giao và tạo điều kiện để cho họ phát huy được tối đa các năng lực cá nhân. Trong các tổ chức KH&CN cũng như trong các doanh nghiệp, công tác quản lý nguồn nhân lực KH&CN chú trọng việc lập kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nhân lực, trong đó bồi dưỡng tại chỗ, đào tạo tại chỗ cũng là một phương pháp khá phô biến. Chức năng duy trì nguôn nhân lực KH&CN, bao gồm kích thích, động viên nhân viên và phát triển các mối quan hệ lao động giữa các thành viên trong tổ chức nhằm đạt được các mục tiêu hoạt động của tổ chức. 12 Liên quan đến kích thích, động viên là những cách thức, chính sách dé nhân viên hăng say làm việc, nâng cao chất lượng, thông qua giao việc, đánh giá, thù lao, khen thưởng, phúc lợi.
Mối quan hệ giữa các thành viên hay tạo môi trường làm việc theo nhóm, tạo bầu không khí làm việc tập thể, đảm bảo các phương tiện làm việc (thông tin, máy móc, phòng thí nghiệm, mạng. Với chức năng này, công tác quan lý nguồn nhân lực trong tô chức ké cả tổ chức Khoa học và công nghệ không chỉ dừng ở việc lưu giữ các dữ liệu thông tin về nhân lực, tư vấn xây dựng tiêu chí tuyển chọn, mà phải nắm được tình trạng thuyên chuyền, ý thức tô chức, kỷ luật, về năng lực thực hiện nhiệm vụ của nhân viên, về nguyện vọng, quan điểm ủa họ đối với chính sách, tư van cho lãnh đạo tổ chức về trả lương, thủ lao,. Nhiều doanh nghiệp còn mời các chuyên gia tư vẫn về xây dựng hệ số trả lương, hệ thống kích thích, lập kế hoạch đào tạo, vv. Triết lý phát triển nguồn nhân lực Khoa học và công nghệ là cách tiếp cận trong phát triển nguồn nhân lực Khoa học và công nghệ, cách nhìn nhận con người trong hệ thống các yếu tố của lực lượng sản xuất và cách ứng xử đối với con người với tư cách là một lực lượng sản xuất.
Ngày nay, con người không còn đơn thuần chi là một yếu tố của quá trình sản xuất mà là nguồn tài sản quý báu của tổ chức. Các doanh nghiệp, tổ chức, chuyền từ tiết kiệm chỉ phí nhân lực sang đầu tư vào nguồn nhân lực dé có lợi thế cạnh tranh cao hon, hiệu quả công việc cao hơn. Trước đây, con người chỉ là lực lượng thừa hành, phụ thuộc, cần khai thác tối đa với chỉ phí tối thiểu, nay chuyển dần sang cách tiếp cận mềm dẻo hơn, linh động hơn, tạo điều kiện để con người phát huy tích cực, chủ động, sáng tạo, vừa khai thác năng lực của họ, vừa có kế hoạch đầu tư lâu dai dé sử dụng họ một cách tôi ưu.