CHƯƠNG I: Gía vàng Việt Nam và tỷ giá hối đoái USD/VND trong thời gian gần đây có nhiều biến động phức tạp, ảnh hưởng đến tâm lý của người dân và chính sách điều hành kinh tế vĩ mô của Nhà nước. Đáng chú ý là sự thay đổi của giá vàng trong nước có quan hệ với tỷ giá hối đoái USD/VND. Vì vậy, tác giả đã chọn đề tài “Tác động của tỷ giá hối đoái USD/VND đến giá vàng trong nước tại Việt Nam” để nghiên cứu, trong giai đoạn nghiên cứu 2005-2017, tác giả hy vọng những kết quả thu được sẽ thực sự hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách và các nghiên cứu tiếp theo. 6 CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2.1 Tổng quan về vàng và thị trường vàng: Theo Phạm Minh Chính, Vương Quân Hoàng (2009), trong cuốn Kinh tế Việt Nam thăng trầm và đột phá, tác giả đã tổng quan và đặc điểm của vàng và thị trường vàng như sau: 2.
Khái niệm: Vàng là kim loại mềm, dễ uốn, dễ dát mỏng, màu vàng và chiếu sáng, vàng không phản ứng với hầu hết các hóa chất, có dạng quặng hoặc hạt trong đá và trong các mỏ bồi tích. Là một kim loại quý, dùng để đúc tiền. Vàng được sử dụng trong các ngành nha khoa, điện tử, và trang sức,… Vàng còn được dùng để đúc tiền làm phương tiện thanh toán, là một loại phương tiện tài chính, công cụ hỗ trợ để điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Chức năng của vàng: Vàng có nhiều chức năng, tuy nhiên trong giới hạn luận văn, tác giả chỉ nêu lên các chức năng của vàng trong nền kinh tế như bên dưới: − Vàng là phương tiện trao đổi tiền tệ Cùng với sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hóa, các hình thái tiền tệ khác nhau đã ra đời và không ngừng phát triển nhằm đáp ứng, mở đường cho sự phát triển của nền kinh tế, thúc đẩy khu vực hóa, toàn cầu hóa.
Các đặc tính của một đồng tiền hàng hóa bao gồm: sự khan hiếm, tính bền, có thể chuyên chở, dễ phân chia, đồng chất và chất lượng được duy trì lâu bền. Vàng đã đáp ứng được đầy đủ các đặc tính trên. Vì vậy, vàng được sử dụng rộng rãi khắp thế giới như một phương tiện chuyển đổi tiền tệ bằng cách phát hành các đồng xu vàng hoặc thông qua các công cụ tiền giấy có thể quy đổi thàng vàng (bản vị vàng). Chế độ bản vị vàng là chế độ tiền tệ mà pháp luật quy định dùng vàng để đúc tiền vàng.
Trong quá trình phát triển kinh tế, chế độ này tiến triển dưới ba hình thức của ba chế độ khác nhau là bản vị tiền vàng, bản vị thỏi vàng và bản vị hối đoái vàng. Trong chế độ bản vị vàng, tiền dù ở hình thức nào ( đúc bằng vàng, in trên 7 giấy, tiền điện tử,…) thì người sở hữu tiền vẫn luôn có một quyền quan trọng là yêu cầu người phát hành tiền đổi tiền thành vàng theo tỷ lệ cam kết. Hệ thống bản vị vàng quốc tế tồn tại trong một khoảng thời gian tương đối ngắn, từ những năm 1870 đến Thế chiến thứ nhất nổ ra năm 1914. Thời kỳ bản vị vàng tạo cho cơ sở cho kinh tế tăng trưởng ổn định và thịnh vượng, lạm phát thấp.
Một ưu điểm nổi bật của chế độ bản vị vàng là bảo đảm cho nhà đầu tư nước ngoài, giá trị khoản đầu tư của họ hiếm khi bị ảnh hưởng bởi sự mất giá của đồng tiền của nước nhận đầu tư so với đồng tiền của nước đầu tư, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho các dòng chảy vốn đầu tư trực tiếp quốc tế. Tuy nhiên chế độ ấy không hoàn hảo, có những độ trễ không thể tránh khỏi trong phản ứng của sản lượng khai thác mỏ đối với các tác nhân kích thích về giá. Tồn tại những cú sốc đối với nguồn cung vàng thế giới và nỗi lo sợ rằng trữ lượng vàng cạn kiệt cuối cùng sẽ gây ra giảm phát. Nhưng nó đã có tác dụng giúp cân bằng tự nhiên và điều chỉnh sự bất thăng bằng giữa các quốc gia và giữ mức giá dài hạn nhìn chung ổn định.
Những nỗ lực nhằm quay trở lại với thời bản vị vàng sau Thế chiến I đã không được quản lý đúng cách với việc tái áp dụng tỷ lệ trao đổi như thời trước chiến tranh ở một số nước mặc cho có sự xuất hiện của lạm phát, tỷ lệ trao đổi thấp hơn ở những nước khác và sự kìm hãm những cơ chế điều chỉnh cần thiết. Đồng đôla Mỹ ấn định theo vàng được đổi ở mức 20.67 USD lấy 1 troy ounce, tỷ lệ này vẫn được giữ trong những năm chiến tranh và sau chiến tranh, nhưng vào năm 1934, đồng đôla Mỹ được định giá lại ở mức 35 USD đổi 1 troy ounce. Sau Chiến tranh thế giới II, cái cốt lõi của hệ thống tiền tệ Bretton Woods được hình thành, đó là đồng đôla Mỹ nên được gắn cố định với vàng ở mức 35 USD đổi lấy 1 troy ounce còn các đồng tiền khác được xác định giá trị theo đồng đôla Mỹ với tỷ giá cố định và có thể điều chỉnh. Hệ thống Bretton Woods có lẽ đã giúp hình thành nên (ít nhất là đối với các nước Phương Tây) thời kỳ huy hoàng nhất của lịch sử kinh tế.
Tăng trưởng cao và lạm phát mặc dù cao hơn ở thời kỳ bản vị vàng cổ xưa nhưng vẫn tương đối thấp và ổn định. Rất nhiều các nước đang phát triển đã đạt được những tiến bộ đáng kể trong kỷ nguyên đó. 8 Tuy nhiên, mức giá cố định 35 USD/troy ounce trở thành phi thực tế qua thời gian, một phần do lạm phát và cơn sốt vàng do hậu quả của cuộc chiến tranh với Việt Nam. Mức cố định 35 USD/troy ounce đã được thay thế vào năm 1968 bởi một hệ thống hai tầng với thị trường tự do (chợ đen) và thị trường chính thức qua “gold window”, nhưng vàng trao đổi trên thị trường tự do vẫn phải theo mức ấn định (mặc dù thực tế không diễn ra như vậy).
Khi Mỹ cuối cùng từ bỏ hệ thống vào năm 1971, giá ấn định cuối cùng trước khi đóng cửa các “gold window” là 42.22 USD/troy ounce và ngày nay Mỹ chính thức định giá mức dự trữ vàng của nước mình ở mức giá đó. Khi hệ thống Bretton Woods sụp đổ vào đầu những năm 1970, vàng không còn là xương sống chính thức của hệ thống tiền tệ quốc tế và dưới những quy tắc của IMF các quốc gia không thể đảm bảo đồng tiền của mình bằng vàng. Mặc dù vậy vàng vẫn còn những chức năng tiền tệ nhất định và được chính thức sử dụng làm tài sản dự trữ của các ngân hàng trung ương. Tính đến cuối năm 2017, Mỹ là nước đứng đầu trong danh sách dự trữ vàng cao nhất trên thế giới với mức 8133.5 tấn, sau đó là Đức với mức 3371 tấn, Ý đứng thứ 3 với 3451.8 tấn, tiếp theo sau là các nước Pháp , Nga, Trung Quốc, Thụy Sỹ, Nhật, Hà Lan, Ấn Độ.
− Vàng là một kênh trú ẩn an toàn cho lạm phát, khủng hoảng và các bất ổn kinh tế chính trị: Kinh tế học truyền thống cho rằng vàng là một kênh trú ẩn an toàn cho lạm phát, khủng hoảng và các bất ổn kinh tế chính trị. Điều này thể hiện qua một số bằng chứng như sau: Trước hết là việc bất chấp những biến động xảy ra trong suốt chiều dài lịch sử, từ chế độ bản vị vàng, sang việc thả nổi giá vàng, lực mua dài hạn của giá vàng là ổn định theo thời gian. Một Ounce vàng năm 1830 có giá 450 USD thì đến năm 2010 giá của nó vẫn như vậy (đã loại bỏ các yếu tố lạm phát) – cho dù hơn 170 năm đã trôi qua. Thêm nữa là trong quá khứ, ta nhận thấy thị trường chứng khoán sụp đổ năm 1987, và một minh chứng cụ thể gần đây nhất là khủng hoảng tài chính 2007-2009.
Trong những giai đoạn mà kinh tế - chính trị thế giới càng bất ổn thì giá vàng càng 9 biến động cao. Chẳng hạn giá vàng cũng tăng cao khi cuộc khủng bố ngày 11/9/2001 xảy ra. (giá vàng lên đến mức 1920. − Vàng là phương tiện cất giữ của cải, tiết kiệm Vàng được thừa nhận giá trị và có giá trị tương đối ổn định so với các hàng hóa khác.
Vàng được sử dụng để tiết kiệm có thể dưới dạng trang sức hoặc dạng thanh ( cây) vàng. Theo thống kê, thị trường đồ trang sức vàng rất phát triển ở một số quốc gia như Ấn Độ, Trung Quốc. Bên cạnh đó, đối với một số quốc gia khác trong đó có Việt Nam, người dân vẫn có tâm lý mua vàng để tích trữ và tiết kiệm, đồng thời coi đây là biện pháp an toàn nhằm đảm bảo giá trị của tiền hoặc làm của hồi môn cho con cháu. Hàng năm có hàng trăm tấn vàng tiêu thụ phục vụ cho nhu cầu người dân.
− Vàng được ứng dụng trong sản xuất công nghiệp phục vụ cho đời sống kinh tế xã hội Ngoài chức năng dự trữ và tiết kiệm, vàng còn có các ứng dụng khá rộng rãi trong sản xuất công nghiệp. Vàng được sử dụng để sản xuất mạch tích hợp, vi xử lý, dùng để mạ trong sản xuất các thiết bị, sử dụng trong ngành công nghiệp vũ trụ, dùng để sản xuất đồng hồ, sản xuất các thiết bị bán dẫn, thậm chí dùng cả trong sản xuất vũ khí… Sẽ khó có thể kể hết những ứng dụng đa dạng của vàng trong công nghiệp. − Vàng là công cụ đầu tư tài chính Với sự bùng phát mạnh mẽ của thị trường tài chính, thị trường hàng hóa về quy mô lẫn tốc độ luân chuyển,. Một mặt, tiền dấu hiệu (tiền giấy, tiến đúc, tiền điện tử,… ) thiếu cơ sở ổn định vững chắc và thực tế luôn chịu áp lực giảm giá do thâm hụt ngân sách của các Chính phủ và các vấn đề chính trị xã hội tiêu cực.
Tốc độ lưu chuyển tiền tệ ngoài ngân hàng nhanh, cộng với sự tinh vi, phức tạp của các sản phẩm đầu tư đi kèm với rủi ro tiềm năng và khó lường. Khủng hoảng tài chính Châu Á 1997-1998, khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007, khủng hoảng nợ công ở Khu vực đồng tiền chung Châu Âu,… là những chứng minh cụ thể. Vì vậy,vai trò của vàng với tư cách của một công cụ đầu tư đã phát triển mạnh mẽ, thay thế các kênh đầu tư khác. 10 Khi kinh tế ngày càng phát triển thì vàng ngày càng như một khoản đầu tư tồn tại cùng chứng khoán, ngoại tệ, góp một phần quan trọng trên thị trường thế giới.