chương 1 giới thiệu sơ lược về đề tài nghiên cứu, chương 2 trình bày khung phân tích chỉ số giá chứng khoán và các nhân tố vĩ mô khác ảnh hưởng đến chỉ số giá chứng khoán, chương 3 trình bày về phương pháp nghiên cứu, chương 4 sẽ phân tích kết quả ước lượng và chương 5 tác giả sẽ kết luận và đưa ra các hàm ý từ kết quả nghiên cứu. KHUNG PHÂN TÍCH CHỈ SỐ GIÁ CHỨNG KHOÁN VÀ CÁC NHÂN TỐ VĨ MÔ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHỈ SỐ GIÁ CHỨNG KHOÁN 2. Chỉ số giá chứng khoán Chỉ số thị trường chứng khoán là một giá trị thống kê phản ánh tình hình của thị trường cổ phiếu. Nó được tổng hợp từ danh mục các cố phiếu theo phương pháp tính nhất định.
Thông thường, danh mục sẽ bao gồm các cổ phiếu cùng ngành hay có cùng mức vốn hóa thị trường và chúng cùng được niêm yết tại một sở giao dịch chứng khoán. Chỉ số giá chứng khoán hiển thị tình trạng và tính năng động của chứng khoán, là thông tin rất quan trọng đối với hoạt động của thị trường, đối với nhà đầu tư và các nhà phân tích kinh tế. Thông qua giá trị của các chỉ số giá chứng khoán mới và cũ có thể đánh giá được diễn biến của thị trường, phản ứng của thị trường sau các thông tin mới về kinh tế, chính trị, xã hội và từ đó có thể nhận định được trào lưu và xu thế của thị trường trong tương lai. Các chỉ số giá chứng khoán có thể do sở giao dịch chứng khoán định ra (ví dụ như VN-Index của Việt Nam), cũng có thể do hãng thông tin (ví dụ Nikkei 225 của Nhật) hay một thể chế tài chính nào đó định ra (ví dụ Hang Seng Index của Hồng Kông),….
Tất cả các thị trường chứng khoán đều xây dựng hệ thống chỉ số giá cổ phiếu cho riêng mình, có thể là chỉ số cho từng cổ phiếu và có thông báo trên báo chí, có thể là chỉ số cho tất cả các cổ phiếu thuộc thị trường của một quốc gia như chỉ số giá cổ phiếu tổng hợp của Hàn Quốc (KOSPI), có thể là chỉ số cho từng ngành, nhóm ngành, như chỉ số giá cổ phiếu ngành công nghiệp của Mỹ (DJIA); có thể là chỉ số cho thị trường quốc tế như chỉ số Hangseng Châu Á (HSAI), chỉ số Dow Joness quốc tế (DJWSI),… (Nguyễn Minh Kiều và Bùi Kim Yến, 2009). Chỉ số giá chứng khoán là thông tin thể hiện giá chứng khoán bình quân hiện tại so với giá bình quân thời kì gốc đã chọn. Giá bình quân thời kì gốc thường được lấy là 100 hoặc 1000. 5 Hiện nay các nước trên thế giới dùng 5 phương pháp để tính chỉ số giá chứng khoán: phương pháp Passcher, phương pháp Laspeyres, chỉ số giá bình quân Fisher, phương pháp số bình quân giản đơn, phương pháp bình quân nhân giản đơn.
Tại Việt Nam, có hai trung tâm giao dịch chứng khoán lớn đặt tại TP.HCM (HOSE) và Hà Nội (HNX) hiện đang sử dụng hai bộ chỉ số tổng hợp là: VN-Index, HNX-Index. Bên cạnh đó còn có thêm nhiều bộ chỉ số khác ra đời sau này và cũng đang được sử dụng rộng rãi trên thị trường như: VN30-Index, HNX30-Index, Upcom-Index,… Trong bài nghiên cứu tác giả sử dụng bộ chỉ số VN-Index, chỉ số này thể hiện biến động giá tại Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM, so sánh giá trị thị trường hiện tại với giá trị thị trường cơ sở vào ngày gốc 28/7/2000, khi thị trường chứng khoán chính thức đi vào hoạt động. VN-Index được xây dựng căn cứ vào giá trị thị trường của tất cả các cổ phiếu được niêm yết. Thông qua chỉ số này nhà đầu tư có thể đánh giá và phân tích thị trường một cách tổng quát.
Công thức tính chỉ số VN-Index như sau: Tổng giá trị thị trường của cổ phiếu niêm yết hiện tại (CMW) VN-Index = x 100 Tổng giá trị thị trường của cổ phiếu niêm yết cơ sở (BMW) Trong đó: n CMW= pit x qit i 1 n BMW= pi0 x qi0 i 1 pit : Giá của cổ phiếu i tại thời điểm tính toán. qit : Khối lượng niêm yết của cổ phiếu i tại thời điểm tính toán. pi0 : Giá của cổ phiếu i tại thời điểm cơ sở. 6 qit : Khối lượng niêm yết của cổ phiếu i tại thời điểm cơ sở.
Chỉ số được tính toán và công bố sau mỗi phiên giao dịch, sự biến động về giá cổ phiếu sẽ làm thay đổi giá trị chỉ số. Giá trị vốn hóa thị trường cơ sở (Tổng giá trị của các cổ phiếu niêm yết cơ sở) được điều chỉnh trong các trường hợp như niêm yết mới, hủy niêm yết và các trường hợp có thể thay đổi về vốn niêm yết, nhằm duy trì tính liên tục cần có của chỉ số. Công thức tính như sau: Số chia mới (d) = Tổng giá trị thị trường các cổ phiếu sau khi thay đổi/ Tổng giá trị thị trường các cổ phiếu trước khi thay đổi x Số chia cũ. Tỷ giá hối đoái và chỉ số giá chứng khoán Tỷ giá hối đoái là một nhân tố hết sức quan trọng trong nền kinh tế nói chung và đối với giá chứng khoán nói riêng.
Tỷ giá hối đoái là tỷ giá giữa hai đồng tiền thể hiện một đồng tiền này sẽ đổi thành đồng tiền khác bằng một tỷ lệ nhất định (Thân Thị Thu Thủy và Võ Thị Thùy Dương, 2015). Có hai cách yết giá là yết giá trực tiếp và yết giá gián tiếp, hiện nay đa số các quốc gia sử dụng phương pháp yết giá gián tiếp. Tùy theo các phân loại mà có nhiều loại tỷ giá hối đoái khác nhau như tỷ giá hối đoái danh nghĩa, tỷ giá hối đoái thực, tỷ giá hối đoái danh nghĩa đa phương, tỷ giá hối đoái thực đa phương, … Tỷ giá hối đoái danh nghĩa là tỷ giá được sử dụng hàng ngày trong giao dịch trên thị trường ngoại hối, nó bao gồm tỷ giá hối đoái danh nghĩa song phương (NER) và tỷ giá hối đoái danh nghĩa đa phương (NEER). Tỷ giá hối đoái danh nghĩa song phương (NER) là giá cả của một đồng tiền được biểu hiện bằng một đồng tiền khác mà chưa đề cập đến chênh lệch lạm phát giữa hai nước.
Theo cách yết giá trực tiếp, khi tỷ giá hối đoái tăng tức ngoại tệ tăng giá so với nội tệ hay nội tệ giảm giá so với ngoại tệ và ngược lại. Tuy nhiên NER chỉ phản ánh được sự tăng hay giảm giá của đồng nội tệ giữa hai quốc gia. Để khắc phục tình trạng này tỷ giá danh nghĩa đa phương được sử dụng. 7 Trong thực tế, một đồng tiền có thể tăng giá so với đồng tiền này nhưng đồng thời lại giảm giá so với đồng tiền khác, vậy để biết được mặt bằng giá của đồng tiền này ta sử dụng tỷ giá hối đoái danh nghĩa đa phương (NEER) hay còn gọi là tỷ giá danh nghĩa hiệu dụng.
NEER là chỉ số được tính bằng cách chọn ra một số ngoại tệ đặc trưng (rổ tiền tệ) và tính giá trung bình các tỷ giá danh nghĩa của các động tiền có tham gia vào rổ tiền tệ với tỷ trọng tỷ giá tương ứng. Như vậy NEER chính là đại diện cho giá trị tương đối của đồng tiền nội địa so với một rổ những đồng tiền của các nước có giá trị giao thương lớn nhất với quốc gia đó. NEER dùng trong nghiên cứu được tính theo các yết giá gián tiếp tức nếu NEER tăng có nghĩa là giá trị đồng tiền trong nước tăng lên so với các đồng tiền các nước khác trong rổ tiền tệ và ngược lại. Công thức tính NEER như sau: n NEERi = eij × wj j 1 Trong đó: NEER là tỷ gia danh nghĩa đa phương.
e là chỉ số tỷ giá danh nghĩa song phương của đồng nội tệ với đồng ngoại tệ thứ n trong rổ tiền tệ. w là tỷ trọng của tỷ giá song phương. j là số thứ tự của các tỷ giá song phương i là kỳ tính toán. Theo hướng tiếp cận “flow-oriented” thì thay đổi tỷ giá hối đoái tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp theo hai hướng.
Khi đồng nội tệ mất giá, lúc này giá cả hàng hóa trong nước sẽ rẻ hơn so với các nước khác, điều này giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xuất khẩu trong nước trên thị trường quốc tế, do đó sẽ khuyến khích việc xuất khẩu dẫn đến lợi nhuận dự kiến của các công ty tăng, giá cổ phiếu cũng sẽ tăng. Ngược lại đối với các doanh nghiệp nội địa có hoạt động nhập khẩu nhiều hơn là xuất khẩu thì sẽ phải đối mặt 8 với việc tăng chi phí nhập khẩu các nguyên liệu, sản phẩm đầu vào, lợi nhuận giảm dẫn đến giá chứng khoán sẽ giảm (Nguyễn Thị Liên Hoa và Lương Thị Thúy Hường, 2014). Tuy nhiên theo một khía cạnh khác, khi đồng nội tệ giảm giá cộng thêm môi trường đầu tư ổn định sẽ thu hút được nhiều lượng vốn đầu tư từ nước ngoài vào để tìm kiếm lợi nhuận và hưởng chênh lệch giá. Họ sẽ tích cực mua cổ phiếu khi đồng nội tệ giảm giá do kỳ vọng rằng hiệu quả đầu tư tăng lên sẽ sẽ được hưởng lợi, khiến cho giá chứng khoán tăng lên.
Nhưng nếu đồng nội tệ liên tục giảm giá sẽ khiến các nhà đầu tư nước ngoài lo ngại nhiều hơn về bất ổn kinh tế vĩ mô, bởi vì họ phải tính đến thời điểm rút vốn về nước để hoàn tất chu kỳ đầu tư, theo đó nếu đồng nội tệ giảm thì các nhà đầu tư nước ngoài là người chịu thiệt hại, từ đó khiến cho giá chứng khoán giảm xuống. Bahmani-Oskooee và Saha (2016) cho thấy thay đổi tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng bất đối xứng lên giá chứng khoán, mặc dù tác động này là chỉ là trong ngắn hạn. Một bài nghiên cứu khác của tác giả Wong và Tsen (2017) tại các nước Malaysia, Singapore, Hàn Quốc và Mỹ cho thấy rằng tỷ giá hối đoái thực và giá chứng khoán thực có mối tương quan nghịch chiều trong khi không tìm thấy mối quan hệ đáng kể này tại các nước Philippines, Nhật Bản, Đức. Tsai (2012) sử dụng dữ liệu của sáu nước châu Á để ước tính mối quan hệ giữa chỉ số giá cổ phiếu và tỷ giá hối đoái cũng cho thấy mối quan hệ nghịch chiều giữa thị trường chứng khoán và thị trường ngoại hối, mối quan hệ này thể hiện rõ ràng hơn khi tỷ giá hối đoái cực kỳ cao hoặc cực kỳ thấp.
Nghiên cứu của Narayan và Narayan (2010) tại Việt Nam giai đoạn 2000-2008 tìm thấy rằng tỷ giá hối đoái danh nghĩa (NER) và giá chứng khoán có mối quan hệ cùng chiều.