Tổng quan nghiên cứu

Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, quy mô ngoại thương của Việt Nam đã có sự phát triển vượt bậc khi tăng hơn 5 lần, từ mức 31,2 tỷ USD năm 2001 lên xấp xỉ 157 tỷ USD vào năm 2010 với tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 18,7%/năm. Tuy nhiên, đi kèm với sự mở rộng quy mô là tình trạng nhập siêu kéo dài với mức thâm hụt kỷ lục lên tới 18,029 tỷ USD vào năm 2008, chiếm 28,76% kim ngạch xuất khẩu. Mặc dù đến năm 2012 cán cân thương mại đã chuyển sang thặng dư 781 triệu USD, tính bền vững của thành quả này vẫn đặt ra nhiều dấu hỏi lớn đối với các nhà quản lý vĩ mô.

Vấn đề cốt lõi nảy sinh từ thực tế là công tác điều hành tỷ giá tại Việt Nam trong giai đoạn dài chủ yếu dựa vào tỷ giá danh nghĩa song phương với đồng Đô la Mỹ, trong khi chưa có cơ quan quản lý nào chính thức công bố và áp dụng chỉ số tỷ giá thực. Việc thiếu vắng thước đo tỷ giá thực khiến cho các đánh giá về mức độ định giá cao hay thấp của đồng nội tệ cũng như năng lực cạnh tranh thương mại quốc tế chưa phản ánh chính xác tương quan lạm phát giữa Việt Nam và các đối tác.

Mục tiêu cụ thể của công trình là xây dựng chuỗi chỉ số tỷ giá thực đa phương dựa trên rổ 10 đồng tiền chủ chốt, từ đó lượng hóa mức độ tác động của tỷ giá thực và thu nhập quốc dân lên tỷ số xuất nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn từ quý 1/2005 đến quý 4/2012. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp bằng chứng định lượng giúp cơ quan điều hành kiểm soát thâm hụt thương mại ở mức an toàn dưới 5% GDP và tối ưu hóa chính sách tiền tệ quốc gia.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết kinh tế quốc tế hiện đại với hai trụ cột chính: thuyết Ngang giá sức mua và điều kiện Marshall-Lerner. Thuyết Ngang giá sức mua chỉ ra rằng tỷ giá danh nghĩa cần được điều chỉnh theo mức chênh lệch lạm phát giữa hai quốc gia để phản ánh đúng sức mua thực tế. Điều kiện Marshall-Lerner chỉ rõ việc phá giá đồng nội tệ chỉ cải thiện cán cân thương mại khi tổng độ co giãn theo giá của cầu xuất khẩu và cầu nhập khẩu lớn hơn 1. Đồng thời, nghiên cứu tích hợp lý thuyết Hiệu ứng đường cong J để giải thích hiện tượng cán cân thương mại thường xấu đi trong ngắn hạn trước khi chuyển biến tích cực trong dài hạn.

Khung phân tích vận dụng mô hình hồi quy thực nghiệm của hai tác giả Mohsen Bahmani-Oskooee và Tatchawan Kantipong (năm 2001) với dạng hàm logarit tự nhiên: logarit của tỷ số xuất khẩu trên nhập khẩu phụ thuộc vào logarit GDP thực trong nước, logarit GDP bình quân của các đối tác thương mại, logarit tỷ giá thực và biến giả đại diện cho các cú sốc kinh tế. Các khái niệm trung tâm bao gồm Tỷ giá danh nghĩa song phương, Tỷ giá danh nghĩa đa phương, Tỷ giá thực song phương, Tỷ giá thực hiệu lực đa phương và Cán cân thương mại.

Phương pháp nghiên cứu

Dữ liệu nghiên cứu được thu thập đồng bộ theo chuỗi thời gian 32 quý liên tục từ quý 1/2005 đến quý 4/2012 từ các nguồn uy tín gồm Tổng cục Thống kê, Tổng cục Hải quan, Ngân hàng Phát triển Châu Á, Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Ngân hàng Thế giới.

Về quy mô mẫu và phương pháp chọn mẫu, tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu mục tiêu gồm 10 đối tác thương mại lớn nhất đại diện cho 10 đồng tiền chủ chốt gồm Đô la Mỹ, Euro, Yên Nhật, Nhân dân tệ, Won Hàn Quốc, Đô la Singapore, Baht Thái Lan, Đô la Hồng Kông, Đô la Úc. Mẫu nghiên cứu này chiếm tới 78,2% tổng kim ngạch nhập khẩu và 63,7% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2010, đảm bảo tính đại diện vượt trội cho bức tranh ngoại thương tổng thể.

Phương pháp phân tích kết hợp định tính thống kê mô tả và định lượng kinh tế lượng. Lý do lựa chọn mô hình hồi quy OLS đa biến kết hợp kiểm định chuỗi thời gian là nhằm loại bỏ hiện tượng hồi quy giả mạo, xác định chính xác độ trễ tác động và lượng hóa cụ thể hệ số co giãn của tỷ giá thực đối với cán cân thương mại Việt Nam.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tỷ giá thực đa phương phản ánh sức cạnh tranh hàng hóa chân thực hơn tỷ giá danh nghĩa. Trong giai đoạn 2007-2008, khi lạm phát trong nước tăng cao vượt trội so với các đối tác, đồng Việt Nam bị định giá cao thực tế, làm suy giảm năng lực cạnh tranh và đẩy mức nhập siêu năm 2008 lên đỉnh điểm 18,029 tỷ USD.

Thứ hai, tốc độ tăng trưởng xuất nhập khẩu duy trì mức cao nhưng cơ cấu thị trường mất cân đối nghiêm trọng. Kim ngạch nhập khẩu từ 10 thị trường lớn nhất chiếm tới 78,2% tổng nhập khẩu năm 2010, riêng Trung Quốc chiếm hơn 20 tỷ USD với mức tăng bình quân 31,9%/năm. Sự dịch chuyển từ nhập siêu sang thặng dư 781 triệu USD năm 2012 (kim ngạch xuất khẩu đạt 114,573 tỷ USD và nhập khẩu đạt 113,792 tỷ USD) mang tính hiện tượng suy giảm tiêu dùng ngắn hạn hơn là chuyển dịch căn bản về chất.

Thứ ba, thu nhập quốc dân trong nước có tác động nghịch biến mạnh mẽ đến cán cân thương mại. Khi GDP Việt Nam duy trì đà tăng trưởng bình quân trên 6,8%/năm trong giai đoạn 2005-2012, nhu cầu nhập khẩu nguyên vật liệu phục vụ sản xuất tăng vọt vì nhóm hàng này chiếm trên 80% tổng giá trị nhập khẩu.

Thứ tư, nghiên cứu xác nhận sự hiện diện của Hiệu ứng đường cong J tại Việt Nam với độ trễ từ 2 đến 3 quý. Sau các đợt điều chỉnh giảm giá danh nghĩa, cán cân thương mại ban đầu suy giảm do hiệu ứng giá cả áp đảo, sau đó mới dần phục hồi khi hiệu ứng khối lượng phát huy tác dụng.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân sâu xa của việc điều chỉnh tỷ giá chậm mang lại hiệu quả xuất khẩu bắt nguồn từ đặc thù cơ cấu sản xuất. Hàng xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là hàng sơ chế, nông lâm thủy sản và dệt may gia công có độ co giãn thấp. Trong khi đó, hàng nhập khẩu phần lớn là máy móc, linh kiện và nguyên phụ liệu thiết yếu (chiếm trên 80% tổng kim ngạch), khó có khả năng thay thế nhanh chóng bằng nguồn cung nội địa. Do đó, việc phá giá danh nghĩa làm chi phí đầu vào tính bằng nội tệ tăng ngay lập tức, triệt tiêu lợi thế cạnh tranh giá rẻ của hàng xuất khẩu.

Kết quả này hoàn toàn tương đồng với kết luận thực nghiệm của Goldstein và Kahn (năm 1985), chứng minh rằng điều kiện Marshall-Lerner chỉ có thể được thỏa mãn trong trung và dài hạn từ 2 năm trở lên đối với các nền kinh tế đang phát triển.

Diễn biến tương quan này được thể hiện rõ ràng khi trực quan hóa qua biểu đồ so sánh xu hướng giữa chỉ số tỷ giá thực đa phương và tỷ số xuất nhập khẩu giai đoạn 2005-2012, đi kèm bảng ma trận hệ số hồi quy đo lường mức độ co giãn của các biến kinh tế vĩ mô. Sự biến thiên ngược chiều giữa biến động tỷ giá thực và tỷ lệ thâm hụt thương mại minh chứng cho tầm quan trọng của việc kiểm soát lạm phát nội địa song hành với điều hành tỷ giá.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần chuyển đổi cơ chế điều hành tỷ giá từ neo bám đơn phương vào đồng Đô la Mỹ sang cơ chế tỷ giá thực đa phương gắn với rổ 10 đồng tiền đối tác thương mại lớn nhất. Mục tiêu duy trì biên độ dao động tỷ giá ổn định trong khoảng 2% đến 3% mỗi năm, thực hiện lộ trình từng bước trong giai đoạn 2014-2018 nhằm bảo toàn sức mua thực tế của đồng nội tệ.

Thứ hai, Bộ Công Thương phối hợp cùng Bộ Kế hoạch và Đầu tư triển khai chiến lược phát triển công nghiệp hỗ trợ, phấn đấu hạ tỷ trọng nguyên vật liệu nhập khẩu phục vụ sản xuất từ mức trên 80% hiện nay xuống dưới 65% vào năm 2020. Giải pháp này giúp giảm thiểu rủi ro biến động chi phí đầu vào khi tỷ giá thay đổi.

Thứ ba, Ngân hàng Nhà nước cần hoàn thiện hành lang pháp lý để phát triển mạnh mẽ thị trường phái sinh tiền tệ. Mục tiêu nâng tỷ lệ doanh nghiệp xuất nhập khẩu ứng dụng các công cụ hợp đồng kỳ hạn, hoán đổi và quyền chọn tiền tệ lên mức 30% đến 40% tổng kim ngạch giao dịch ngoại hối vào năm 2016, giúp doanh nghiệp chủ động triệt tiêu rủi ro hối đoái.

Thứ tư, các Hiệp hội ngành hàng xuất khẩu cùng cộng đồng doanh nghiệp cần chuyển dịch mô hình sản xuất từ gia công sơ chế sang chế biến sâu, nâng cao hàm lượng công nghệ cao. Mục tiêu đưa tỷ trọng hàng công nghiệp chế biến sâu đạt trên 25% tổng kim ngạch xuất khẩu trong giai đoạn 2015-2020 nhằm gia tăng độ co giãn của cầu hàng xuất khẩu Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan hoạch định chính sách tiền tệ và thương mại gồm Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính. Luận văn cung cấp khung phương pháp tính toán tỷ giá thực đa phương chuẩn mực, hỗ trợ thiết lập biên độ can thiệp tỷ giá chính xác và duy trì thâm hụt tài khoản vãng lai dưới ngưỡng an toàn 5% GDP.

Nhóm lãnh đạo và chuyên viên tài chính tại các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Nghiên cứu giúp doanh nghiệp nhận diện rõ tác động của biến động tỷ giá thực tới giá thành sản phẩm khi nguyên liệu nhập khẩu chiếm trên 80% chi phí, từ đó chủ động xây dựng phương án phòng ngừa rủi ro tỷ giá trong biên độ 2% đến 5%.

Nhóm chuyên gia phân tích kinh tế vĩ mô tại các viện nghiên cứu, công ty chứng khoán và quỹ đầu tư. Bộ dữ liệu chuỗi thời gian 32 quý chuẩn hóa và mô hình hồi quy định lượng là nguồn tài liệu quý giá để dự báo xu hướng xuất nhập khẩu và cán cân vãng lai quốc gia.

Nhóm giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Tài chính - Ngân hàng, Kinh tế quốc tế. Công trình là tài liệu tham khảo chất lượng cao về phương pháp kiểm định điều kiện Marshall-Lerner, phân tích hiệu ứng đường cong J và ứng dụng kinh tế lượng trong nghiên cứu vĩ mô.

Câu hỏi thường gặp

Tỷ giá thực đa phương khác gì so với tỷ giá danh nghĩa thông thường? Tỷ giá danh nghĩa chỉ là giá giao dịch thuần túy giữa hai đồng tiền trên thị trường ngoại hối hàng ngày. Ngược lại, tỷ giá thực đa phương là chỉ số tổng hợp được điều chỉnh theo mức chênh lệch lạm phát giữa Việt Nam và rổ 10 đối tác thương mại lớn nhất, phản ánh chính xác tương quan sức mua và sức cạnh tranh thực tế của hàng hóa quốc gia.

Tại sao phá giá đồng nội tệ không ngay lập tức cải thiện cán cân thương mại? Theo lý thuyết đường cong J, trong ngắn hạn từ 2 đến 3 quý đầu tiên, các hợp đồng ngoại thương đã ký kết theo giá cũ và chi phí nhập khẩu nguyên liệu (chiếm trên 80% tổng kim ngạch) tăng ngay lập tức. Hiệu ứng giá cả vượt trội hơn hiệu ứng khối lượng khiến cán cân thương mại xấu đi trước khi cải thiện trong dài hạn.

Việt Nam thặng dư thương mại 781 triệu USD năm 2012 có phải là bước ngoặt bền vững? Con số xuất siêu 781 triệu USD năm 2012 chủ yếu bắt nguồn từ sự suy giảm mạnh của nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu đầu vào trong nước do sản xuất đình đốn, chứ chưa phản ánh bước tiến nhảy vọt về chất lượng và giá trị gia tăng nội địa của hàng hóa xuất khẩu.

Tỷ trọng thị trường nhập khẩu tác động ra sao đến thâm hụt thương mại của Việt Nam? Việc 10 thị trường lớn nhất chiếm tới 78,2% kim ngạch nhập khẩu năm 2010, đặc biệt nhập khẩu từ Trung Quốc tăng 31,9%/năm, đã tạo ra sự phụ thuộc nguồn cung nguyên liệu lớn. Điều này khiến Việt Nam thường xuyên nhập siêu nặng nề từ khu vực châu Á, làm hạn chế tác động tích cực của việc điều chỉnh tỷ giá.

Điều kiện Marshall-Lerner có được thỏa mãn tại Việt Nam không? Điều kiện Marshall-Lerner không thỏa mãn trong ngắn hạn dưới 6 tháng do độ co giãn theo giá của xuất nhập khẩu thấp. Tuy nhiên, trong dài hạn trên 2 năm, tổng độ co giãn theo giá của cầu xuất khẩu và nhập khẩu lớn hơn 1, giúp chính sách tỷ giá phát huy tác động cải thiện cán cân thương mại.

Kết luận

  • Luận văn đã tính toán thành công chuỗi chỉ số tỷ giá thực đa phương của Việt Nam với rổ 10 đồng tiền chủ chốt trong suốt 32 quý giai đoạn 2005-2012.
  • Chứng minh rõ ràng tình trạng định giá cao của đồng nội tệ trong giai đoạn 2007-2008 là nguyên nhân trực tiếp đẩy mức thâm hụt thương mại lên 18,029 tỷ USD.
  • Xác nhận sự tồn tại của hiệu ứng đường cong J với độ trễ từ 2 đến 3 quý trước khi cán cân thương mại có sự cải thiện rõ nét.
  • Chỉ ra tính chất thiếu bền vững của mức xuất siêu 781 triệu USD năm 2012 do nền kinh tế suy giảm nhập khẩu nguyên vật liệu sản xuất.
  • Đóng góp hệ thống 4 nhóm giải pháp vĩ mô toàn diện, trọng tâm là chuyển đổi cơ chế điều hành theo tỷ giá thực đa phương giai đoạn 2014-2018 và tái cơ cấu nguồn hàng nhập khẩu đến năm 2020.

Để nắm bắt toàn diện phương pháp định lượng và các ma trận hệ số hồi quy chi tiết, độc giả và các nhà nghiên cứu hãy tải toàn văn luận văn thạc sĩ kinh tế để ứng dụng hiệu quả vào công tác nghiên cứu và thực tiễn điều hành.