CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TỶ GIÁ VÀ CÁN CÂN THƯƠNG MẠI 1. Những vấn đề lý luận về tỷ giá hối đoái 1. Khái niệm tỷ giá Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có đồng tiền riêng của quốc gia mình. Các hoạt động về thương mại, đầu tư và các quan hệ tài chính quốc tế… đòi hỏi các quốc gia phải thanh toán với nhau.
Thanh toán giữa các quốc gia với nhau dẫn đến việc trao đổi đồng tiền với nhau, đồng tiền này đổi lấy đồng tiền kia. Hai đồng tiền trao đổi với nhau theo một tỷ lệ nhất định, tỷ lệ này gọi là tỷ giá. Tỷ giá hối đoái là một vấn đề phức tạp, là một trong những công cụ cơ bản của Nhà nước trong quản lý và điều hành vĩ mô. Một số khái niệm về tỷ giá đang được sử dụng phổ biến.
Theo Samuelson – nhà kinh tế học người Mỹ: “Tỷ giá hối đoái là tỷ giá để đổi tiền của một nước lấy tiền của một nước khác”. Theo Slatyer – nhà kinh tế người Úc: “Tỷ giá hối đoái là một đồng tiền của một nước nào đó thì bằng giá trị của một số lượng đồng tiền nước khác”. Mishkin: “Giá cả của một đồng tiền được biểu thị thông qua đồng tiền khác gọi là tỷ giá”. Theo Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, năm 2010: “Tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam là giá của một đơn vị tiền tệ nước ngoài tính bằng đơn vị tiền tệ của Việt Nam”.
Do hiện nay các nước trên thế giới sử dụng đồng thời hai phương pháp yết tỷ giá, đó là: Yết tỷ giá trực tiếp: “Tỷ giá là giá của một đơn vị ngoại tệ tính bằng số đơn vị nội tệ”. Hầu hết các nước trên thế giới đều dùng phương pháp yết tỷ giá trực tiếp, trong đó có Việt Nam. Yết tỷ giá gián tiếp: “Tỷ giá là giá của một đơn vị nội tệ tính bằng số đơn vị ngoại tệ”. Hiện nay, trên thế giới chỉ có 5 đồng tiền dùng phương pháp yết tỷ giá gián tiếp, gồm: GBP, AUD, NZD, EUR và SDR.
- 15 - Để các bình luận về tác động của tỷ giá lên nền kinh tế trở nên nhất quán đối với mọi quốc gia, nhằm mục đích phục vụ cứu nghiên cứu tác động của tỷ giá lên cán cân thương mại Việt Nam của luận văn, tỷ giá được quy ước như sau: Tỷ giá (E) là giá cả của một đơn vị ngoại tệ được thể hiện bằng số đơn vị nội tệ, tức ngoại tệ đóng vai trò là đồng yết giá, còn nội tệ đóng vai trò là đồng định giá. Hay nói cách khác, tỷ giá (E) là số đơn vị nội tệ trên một đơn vị ngoại tệ. Phân loại tỷ giá Căn cứ nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối, ta có: Tỷ giá mua vào - Bid Rate: Là tỷ giá mà tại đó ngân hàng yết giá sẵn sàng mua vào đồng tiền yết giá. Tỷ giá bán ra - Ask (or Offer) Rate: Là tỷ giá mà tại đó ngân hàng yết giá sẵn sàng bán ra đồng tiền yết giá.
Tỷ giá giao ngay - Spot rate: Là tỷ giá được thỏa thuận hôm nay, nhưng việc thanh toán xảy ra trong vòng hai ngày làm việc tiếp theo (nếu không có thỏa thuận khác thì thường là ngày làm việc thứ hai). Tỷ giá kỳ hạn - Forward Rate: Là tỷ giá được thỏa thuận ngày hôm nay, nhưng việc thanh toán xảy ra sau đó từ ba ngày làm việc trở lên. Tỷ giá mở cửa - Opening Rate: Là tỷ giá áp dụng cho hợp đồng giao dịch đầu tiên trong ngày. Tỷ giá đóng cửa - Closing Rate: Là tỷ giá áp dụng cho hợp đồng cuối cùng được giao dịch trong ngày.
Thông thường, ngân hàng không công bố tỷ giá của tất cả các hợp đồng đã được ký kết trong ngày, mà chỉ công bố tỷ giá đóng cửa. Tỷ giá đóng cửa là một chỉ tiêu chủ yếu về tình hình biến động tỷ giá trong ngày. Cần chú ý là tỷ giá đóng cửa hôm nay không nhất thiết phải là tỷ giá mở cửa ngày hôm sau. Tỷ giá chéo - Crosed Rate: Là tỷ giá giữa hai đồng tiền được suy ra từ đồng tiền thứ ba (còn gọi là đồng tiền trung gian).
- 16 - Tỷ giá chuyển khoản - Transfer Rate: Tỷ giá chuyển khoản áp dụng cho các giao dịch mua bán ngoại tệ là các khoản tiền gửi tại ngân hàng. Tỷ giá tiền mặt - Bank Note Rate: Tỷ giá tiền mặt áp dụng cho ngoại tệ tiền kim loại, tiền giấy, séc du lịch và thẻ tín dụng. Thông thường, tỷ giá mua tiền mặt thấp hơn và tỷ giá bán tiền mặt cao hơn so với tỷ giá chuyển khoản. Căn cứ cơ chế điều hành chính sách tỷ giá, ta có Tỷ giá chính thức - Official Rate (Ở Việt Nam ngày nay là tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng): Là tỷ giá do NHTW công bố, nó phản ánh chính thức về giá trị đối ngoại của đồng nội tệ.
Tỷ giá chính thức được áp dụng để tính thuế xuất nhập khẩu và một số hoạt động khác liên quan đến tỷ giá chính thức. Tỷ giá chợ đen - Black Market Rate: Là tỷ giá được hình thành bên ngoài hệ thống ngân hàng, do quan hệ cung cầu trên thị trường chợ đen quyết định. Tỷ giá cố định - Fixed Rate: Là tỷ giá do NHTW công bố cố định trong một biên độ giao động hẹp. Dưới áp lực cung cầu của thị trường, để duy trì tỷ giá cố định, buộc NHTW phải thường xuyên can thiệp, do đó làm cho dự trữ ngoại hối quốc gia thay đổi.
Tỷ giá thả nổi hoàn toàn - Freely Floating Rate: Là tỷ giá được hình thành hoàn toàn theo quan hệ cung cầu trên thị trường, NHTW không hề can thiệp. Tỷ giá thả nổi có điều tiết - Managed Floating Rate: Là tỷ giá được thả nổi, nhưng NHTW tiến hành can thiệp để tỷ giá biến động theo hướng có lợi cho nền kinh tế. Căn cứ tính chất tác động đến thương mại quốc tế, ta có Tỷ giá danh nghĩa song phương (Bilateral Nominal Exchange Rate): Là giá cả của một đồng tiền được biểu thị thông qua một đồng tiền khác mà chưa đề cập đến tương quan sức mua hàng hóa và dịch vụ giữa chúng. Tỷ giá danh nghĩa đa phương (tỷ giá trung bình) (Nominal Effective Exchange Rate): Là chỉ số mà căn cứ vào nó ta biết được từ thời điểm này sang - 17 - thời điểm khác, một đồng tiền là lên giá hay giảm giá với tất cả các đồng tiền còn lại.
Tỷ giá thực song phương (Bilateral Real Exchange Rate): Tỷ giá thực bằng tỷ giá danh nghĩa đã được điều chỉnh bởi tỷ lệ lạm phát giữa trong nước với nước ngoài, do đó, nó là chỉ số phản ánh tương quan sức mua giữa nội tệ và ngoại tệ. Tỷ giá thực đa phương (Real Effective Exchange Rate): bằng tỷ giá danh nghĩa đa phương đã được điều chỉnh bởi tỷ lệ lạm phát ở trong nước với tất cả các nước còn lại, do đó nó phản ánh tương quan sức mua giữa nội tệ với tất cả các đồng tiền còn lại. Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá Cung cầu về ngoại tệ trên thị trường là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến sự biến động của tỷ giá hối đoái. Cung cầu ngoại tệ lại chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau trong đó có cán cân thanh toán quốc tế.
Nếu cán cân thanh toán quốc tế dư thừa có thể dẫn đến khả năng cung ngoại tệ lớn hơn cầu ngoại tệ và ngược lại. Sự cân bằng của cán cân thanh toán quốc tế lại phụ thuộc vào các nguồn cung và cầu ngoại tệ cấu thành nên cán cân thanh toán quốc tế. Khi nền kinh tế có mức tăng trưởng ổn định nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ nhập khẩu sẽ tăng, do đó nhu cầu về ngoại tệ cho thanh toán hàng nhập khẩu tăng lên. Ngược lại, khi nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái thì các hoạt động sản xuất kinh doanh và xuất nhập khẩu bị đình trệ làm cho nguồn cung ngoại tệ giảm đi.
Trong khi nhu cầu nhập khẩu chưa kịp thời được điều chỉnh trong ngắn hạn việc giảm cung ngoại tệ sẽ đẩy tỷ giá lên cao. Mức lạm phát tương đối Khi mức lạm phát trong nước cao hơn ở nước ngoài thì giá cả hàng hóa trong nước cao hơn giá cả hàng hóa nước ngoài. Điều này sẽ kích thích nhập khẩu, kết quả là cung ngoại tệ giảm (Sf) và cầu ngoại tệ tăng (Df), làm đồng ngoại tệ tăng giá, nội tệ giảm giá - tỷ giá tăng.1: Lạm phát và tỷ giá S(d/f) Sf1 Sf0 S1 S0 Df1 Df0 Mức lãi suất tương đối (lãi suất thực) Khi lãi suất thực đồng nội tệ lớn hơn lãi suất thực đồng ngoại tệ thì các tài sản tài chính ghi bằng nội tệ sẽ hấp dẫn các nhà đầu tư. Các nhà đầu tư sẽ chuyển dịch tài sản tài chính ghi bằng ngoại tệ sang các tài sản tài chính ghi bằng nội tệ, làm cung ngoại tệ tăng, cầu ngoại tệ giảm.
Kết quả là đồng nội tệ tăng giá - tỷ giá giảm.2: Lãi suất và tỷ giá S(d/f) Sf0 S0 Sf1 S1 Df0 Df1 Mức tăng thu nhập tương đối Do xuất khẩu phụ thuộc vào thu nhập của người dân ở nước ngoài, nhập khẩu phụ thuộc vào thu nhập của người dân ở trong nước. Vì thế khi thu nhập trong nước tăng nhanh hơn so với thu nhập ở nước ngoài sẽ dẫn đến tình trạng - 19 - nhu cầu nhập khẩu tăng nhanh hơn so với xuất khẩu. Điều này làm cầu ngoại tệ tăng nhanh hơn cung ngoại tệ, ngoại tệ tăng giá - tỷ giá tăng.3: Thu nhập và tỷ giá S(d/f) Sf1 S1 Sf0 S0 Df1 Df0 Vai trò của Chính phủ Chính phủ tác động lên tỷ giá thông qua các chính sách kinh tế vĩ mô làm thay đổi các nhân tố ở trên ta đã khảo sát: lạm phát, lãi suất, thu nhập. Hơn nữa Chính phủ có thể tác động trực tiếp lên cung cầu ngoại tệ bằng cách ban hành hay hủy bỏ các rào cản thương mại như thuế quan, hạn ngạch và các loại thuế.
Thuế quan và các loại thuế làm thay đổi giá các mặt hàng và tỷ suất lợi nhuận các tài sản chuyển vốn ra vào đất nước. Thông qua đó ảnh hưởng đến tỷ giá. Kỳ vọng của giới đầu cơ Giới đầu cơ tham gia thị trường ngoại hối trên cơ sở kỳ vọng về xu hướng vận động của tỷ giá trong tương lai.