Chương 1: Giới thiệu về vấn đề nghiên cứu - Chương 2: Tổng quan vấn đề nghiên cứu - Chương 3: Phương pháp nghiên cứu - Chương 4: Thực trạng dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, trình độ lao động, năng suất lao động và chi phí lao động tại Việt Nam - Chương 5: Kết quả nghiên cứu - Chương 6: Giải pháp và kiến nghị nâng cao lợi thế cạnh tranh của Việt Nam trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài 5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Khái niệm trình độ lao động Theo Victor R. Fuchs (1964), rất khó để định nghĩa một cách chính xác về trình độ lao động. Có thể coi trình độ lao động là ảnh hưởng của một lượng sức lao động lên công nghệ và các yếu tố đầu vào khác, phụ thuộc vào các nhân tố như kiến thức, trí tuệ, sức khỏe của người lao động trong thời gian làm việc.
Gregory Clark (2007) cho rằng trình độ lao động là tính kỷ luật và thái độ đối với công việc, là nhân tố chính thu hút dòng vốn đầu tư dẫn đến sự thịnh vượng của một nền kinh tế. Nói một cách khái quát, trình độ lao động là khái niệm phản ánh chất lượng lao động. Đó là chất lượng nguồn nhân lực được đo lường thông qua trình độ văn hóa, bằng cấp, chuyên môn, kinh nghiệm. Dưới góc độ tiếp cận về nguồn vốn nhân lực, trình độ lao động là trình độ học vấn và kỹ năng làm việc của lực lượng lao động (Nguyễn Ngọc Tùng, Ngô Thị Thuần, Nguyễn Hùng Anh, 2018).
Cụ thể, trình độ lao động được xem xét thông qua các kỹ năng, sự lành nghề, khéo léo (thể chất, trí tuệ, tâm lý…) và năng lực đánh giá. Có nhiều khái niệm khác nhau về trình độ lao động, dưới góc độ tiếp cận của bài nghiên cứu, trình độ lao động là chất lượng lao động bao gồm kiến thức, kỹ năng, khả năng hoàn thành công việc được phản ánh thông qua trình độ đào tạo, kinh nghiệm làm việc của người lao động. Khái niệm năng suất lao động Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đã đưa ra khái niệm về “năng suất”: là tỷ lệ giữa sản lượng đầu ra và tổng các yếu tố đầu vào để đạt được sản lượng đầu ra đó. Đó là kết quả cuối cùng của quá trình sử dụng các yếu tố xã hội bao gồm: khoa học, nghiên cứu và phát triển (R&D), giáo dục, kỹ thuật, quản lý, cơ sở hạ tầng sản xuất, tổ chức lao động.
Như vậy, có thể hiểu năng suất lao động là tỷ lệ giữa số lượng sản phẩm đầu ra và lao động đầu vào được sử dụng để sản xuất ra số lượng sản phẩm đó. Theo Tổ chức Năng suất Châu Á (APO), năng suất lao động là giá trị hàng hóa, dịch vụ được sản xuất trong một khoảng thời gian trên tổng số giờ lao động sản xuất của người 6 lao động. Năng suất lao động là chỉ tiêu đo lường sản lượng được sản xuất trên một đơn vị lao động, thường là sản lượng trên một giờ lao động hay sản lượng trên một người lao động. Ngoài ra, năng suất lao động phản ánh hiệu suất làm việc của lao động, mức độ hiệu quả trong việc sử dụng lao động vào hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp.
Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD, 2002), năng suất lao động là tỷ lệ của sản phẩm đầu ra và đầu vào lao động. Nói cách khác, năng suất lao động đo lường mức độ hiệu quả của việc sử dụng đầu vào lao động trong nền kinh tế để sản xuất ra một lượng sản phẩm đầu ra nhất định. Tổng cục Thống kê đưa ra định nghĩa: năng suất lao động là khái niệm phản ánh hiệu suất làm việc của lao động, thường đo bằng tổng sản phẩm trong nước tính bình quân một lao động trong thời kỳ tham chiếu. Theo đó, năng suất lao động quốc dân được tính bằng tổng sản phẩm trong nước (GDP) trên tổng số người làm việc bình quân, gián tiếp thể hiện mức độ phát triển của nền kinh tế quốc gia.
Như vậy, năng suất lao động được hiểu là sản lượng hàng hóa hay dịch vụ cuối cùng được tạo ra trên một đơn vị lao động tham gia vào hoạt động sản xuất. Khái niệm chi phí lao động Theo Jack E. Triplett (1983), chi phí lao động là khoản tiền lương cần thiết để đạt được sự phục vụ của người lao động cộng với chi phí cần thiết để đảm bảo rằng người lao động sẽ đóng góp sức lao động một cách hiệu quả. Nói cách khác, chi phí lao động là tổng tiền lương mà người sử dụng lao động chi trả và phúc lợi dành cho người lao động trong thời gian làm việc.
Conner và Prahalad (1996) cho rằng chi phí lao động là khoản tiền mà người chủ doanh nghiệp chi trả cho người lao động để duy trì được quyền điều hành, kiểm soát hành vi của người lao động. Mặt khác, đối với người lao động, tiền lương là khoản thu nhập có được khi chấp nhận bị điều hành bởi người thuê và sử dụng sức lao động trong quan hệ hợp đồng. Như vậy, chi phí lao động cũng có thể đo lường bằng tổng thu nhập mà người lao động nhận được từ người sử dụng lao động do sức lao động mà mình bỏ ra trong thời gian làm việc. Cụ thể, khoản thu nhập này bao gồm tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công; các khoản phụ cấp, trợ cấp; tiền thù lao dưới các hình thức; tiền 7 nhận được từ tham gia hiệp hội kinh doanh, hội đồng quản trị, ban kiểm soát, hội đồng quản lý và các tổ chức; các khoản lợi ích khác và tiền thưởng (Khoản 2, Điều 3 Luật Thuế thu nhập cá nhân).
Trong bài nghiên cứu này, chi phí lao động được hiểu là khoản tiền lương và các chi phí khác mà người sử dụng lao động phải chi trả cho người lao động để sử dụng lao động trong doanh nghiệp. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài Đầu tư trực tiếp nước ngoài (tiếng Anh: Foreign Direct Investment), theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO, 1996), xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Có thể thấy rằng, dưới cách định nghĩa của WTO, một khoản đầu tư sẽ được xác định là đầu tư trực tiếp nước ngoài nếu thỏa mãn được 2 điều kiện: đầu tư được thực hiện từ nước này sang nước khác (có sự tham gia của yếu tố nước ngoài) và nhà đầu tư cần có quyền quản lý tài sản mà mình mua. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF, 2009) đưa ra khái niệm về FDI: là hình thức đầu tư qua biên giới, trong đó một chủ thể cư trú ở một nền kinh tế có quyền kiểm soát hoặc có được một mức độ ảnh hưởng đáng kể đến việc quản lý một doanh nghiệp cư trú tại một nền kinh tế khác với mục tiêu là thiết lập lợi ích lâu dài và nắm quyền quản lý thực sự doanh nghiệp.
Cách định nghĩa này nhấn mạnh vào yếu tố nước ngoài, cụ thể là việc đầu tư được thực hiện qua biên giới, từ nền kinh tế này sang nền kinh tế khác. Theo Tổ chức hợp tác và phát triển Kinh tế (OECD), đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư qua biên giới, được thực hiện bởi một chủ thể cư trú ở một nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp) với mục đích thiết lập lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp (doanh nghiệp nhận đầu tư trực tiếp) cư trú tại một nền kinh tế khác nền kinh tế của nhà đầu tư. Cách định nghĩa của OECD nhấn mạnh vào yếu tố xuyên biên giới, yếu tố nước ngoài của khoản đầu tư và mục đích thiết lập lợi ích lâu dài của doanh nghiệp. Trong cách định nghĩa này, thuật ngữ “lợi ích lâu dài” hàm ý rằng tồn tại mối quan hệ lâu dài giữa nhà đầu tư trực tiếp và doanh nghiệp cũng như mức độ ảnh hưởng đáng kể của nhà đầu tư lên các quyết 8 định quản lý của doanh nghiệp, tương tự với thuật ngữ được đề cập trong định nghĩa của IMF.
Theo UNCTAD (2012), FDI lại được định nghĩa với những yếu tố cấu thành rất rõ ràng bao gồm: việc đầu tư dài hạn gắn liền với lợi ích và sự kiểm soát lâu dài của một chủ thể đầu tư; ở một quốc gia này vào một công ty ở một quốc gia khác. Theo đó, đầu tư trực tiếp nước ngoài gắn liền với sự dịch chuyển các dòng vốn đầu tư vượt qua biên giới lãnh thổ của một quốc gia, tức là từ nước đầu tư (home country) sang nước nhận đầu tư (host country). Các yếu tố xác định FDI trong cách định nghĩa này bao gồm: dài hạn, gắn liền với lợi ích và sự kiểm soát lâu dài, từ quốc gia này sang quốc gia khác. Từ những khái niệm trên về FDI, có thể hiểu rằng FDI là một loại hình của đầu tư quốc tế, phản ánh sự di chuyển các loại tài sản như vốn, công nghê ̣, kỹ năng quản lý từ nước này sang nước khác trong một thời gian dài để kinh doanh với mục tiêu là lợi nhuận, trong đó người sở hữu vốn (cổ phần tại doanh nghiê ̣p nhận đầu tư) trực tiếp điều hành các hoạt động tại doanh nghiê ̣p nhận đầu tư.
Cơ sở lý thuyết Lý thuyết quy mô thị trường: Tất cả các yếu tố như GDP, dân số, lượng hàng nhập khẩu, các hiệp định thương mại, yếu tố như chính trị, nguồn nhân lực,. thể hiện tổng thu nhập và tiềm năng phát triển và sự ổn định của quy mô thị trường doanh nghiệp có vốn FDI. Theo lý thuyết này, quy mô của thị trường nước tiếp nhận FDI càng lớn, nguồn vốn FDI đổ vào quốc gia đó sẽ càng nhiều. Khi một công ty đa quốc gia tìm kiếm một địa điểm để đầu tư thì quy mô thị trường được đánh giá là một yếu tố quyết định đáng kể đến quyết định đầu tư và lượng vốn FDI được đầu tư.
Trong đó, các yếu tố của thị trường lao động là rất quan trọng. Lý thuyết về về phương thức thâm nhập: Lý thuyết này giải thích sự khác biệt giữa FDI và xuất khẩu ở khía cạnh chi phí sản xuất. Chi phí sản xuất có thể được hiểu là bao gồm chi phí lao động, chi phí nguyên vật liệu đầu vào, chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí dịch vụ mua ngoài và các chi phí khác bằng tiền.