Mở đầu. Chương này nêu lý do nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết về các lý thuyết liên quan đến TXĐTT, cạnh tranh, RRTD và các yếu tố vi mô thuộc nội tại ngân hàng. Nội dung chương nêu lên tổng quan về cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước tập trung vào TXĐTT, cạnh tranh, RRTD và HQHĐ của các NHTM.
Trong chương này cũng trình bày các yếu tố ảnh hưởng đến RRTD, cạnh tranh và HQHĐ của các NHTM. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương này trình bày các giả thuyết và phương pháp nghiên cứu áp dụng trong luận án, mô tả cách xác định và đo lường TXĐTT, cạnh tranh, RRTD và HQHĐ cùng các yếu tố liên quan. Trong chương này, tác giả cũng trình bày chi tiết mô hình nghiên cứu và giải thích các biến trong mô hình và dữ liệu nghiên cứu.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Chương này đưa ra các kết quả nghiên cứu đồng thời đưa ra các nhận xét trong quá trình phân tích. Chương 5: Kết luận và khuyến nghị. Chương này nêu lên các kết luận rút ra từ quá trình phân tích đồng thời đưa ra các kiến nghị đối với các đối tượng liên quan dựa trên các kết luận đã nêu.
Chương 5 cũng nêu lên những hạn chế của đề tài trong quá trình nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. luan an 9 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG, CẠNH TRANH, TIẾP XÚC ĐA THỊ TRƯỜNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Mục tiêu chính của chương nhằm trình bày các khái niệm về rủi ro và RRTD, cạnh tranh và TXĐTT, HQHĐ; Các lý thuyết nền như giả thuyết quyền lực thị trường, cấu trúc thực hiện- hiệu quả (SCP), giải thuyết nhượng bộ lẫn nhau làm cơ sở để biện luận chiều hướng tác động của RRTD, TXĐTT và các yếu tố liên quan tác động đến HQHĐ của các NHTM. Trong chương này cũng trình bày các yếu tố ảnh hưởng đến HQHĐ và lược khảo các nghiên cứu trước có liên quan, đây cũng là cơ sở để đưa ra khoảng trống nghiên cứu của đề tài.
Các khái niệm về rủi ro, rủi ro tín dụng, cạnh tranh và hiệu quả hoạt động 2. Rủi ro và Rủi ro tín dụng Theo Kiều (2012) thì rủi ro là một sự không chắc chắn (uncertainty) hay một tình trạng bất ổn. Đặc điểm cơ bản của một ngân hàng là theo đuổi những lợi ích có thể chấp nhận được và rủi ro đo được. Theo Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng thì các tiêu chuẩn kiểm soát rủi ro của Basel được áp dụng cho bất kỳ ngân hàng nào hoạt động trên phạm vi quốc tế, bằng cách tăng cường quản lý rủi ro trong ba lĩnh vực rủi ro chính: RRTD, rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động.
Mục tiêu chính của khuôn khổ này là củng cố hệ thống ngân hàng quốc tế sau một loạt sự suy giảm trong hoạt động tài chính và khả năng kiểm soát rủi ro tín dụng của các ngân hàng lớn giữa những năm 1970 và 1980. Cho đến nay sau Basel I (1988), Basel II và III đã được ban hành và áp dụng trong nhiều nước phát triển. Theo quy định trong Basel II, một tổ chức tài chính được gọi là đủ vốn khi hệ số đủ vốn (Capital Adequacy Ratio – CAR) đạt tối thiểu 4% đối với vốn cấp 1 và 8% đối với vốn cấp 2. RRTD xảy ra khi khách hàng không thể hoàn trả khoản vay của họ.
Theo Ủy ban Basel (2004) thì RRTD là các sự kiện bất ngờ dẫn đến tổn thất về giá trị tài sản, khấu trừ lợi nhuận so với lợi nhuận kỳ vọng hoặc tạo ra các khoản chi luan an 10 phí bổ sung để hoàn thành một giao dịch cụ thể. RRTD xảy ra khi các bên không thể trả nợ gốc và lãi đúng thời hạn được ghi trong hợp đồng. Nếu tổn thất là hậu quả của hệ điều hành nội bộ kém hiệu quả hoặc lỗi, chúng sẽ được gọi là rủi ro hoạt động. Mặt khác, rủi ro thị trường được tạo ra từ các yếu tố bên ngoài làm giảm giá trị tài sản của ngân hàng và tạo ra thiệt hại (Hull, 2010).
Theo Koch và MacDonald (2014) thì "Bất cứ khi nào ngân hàng có được thu nhập từ tài sản, thì giả định rủi ro mà người mượn sẽ vỡ nợ, nghĩa là không trả nợ gốc và lãi một cách kịp thời". Theo Murphy (2008) RRTD không chỉ giới hạn trong các sản phẩm cho vay mà còn có trong các sản phẩm tín dụng khác, như thư tín dụng và bảo lãnh, nếu khách hàng đó không thực hiện những gì mà họ cam kết trong hợp đồng kinh doanh, dịch vụ đầu tư hoặc tài sản tài chính mà ngân hàng cho mượn như đất đai, tài sản và thiết bị. Như vậy, trong nghiên cứu này, RRTD được hiểu là các khoản lỗ có thể xảy ra với các ngân hàng đến từ những người vay không trả được nợ. Trong những năm gần đây, các NHTM của Việt Nam đã thực hiện nhiều khảo sát thực tế đối với các khách hàng đi vay để tăng cường quản lý RRTD nhằm ngăn ngừa rủi ro này trong tình hình có rất nhiều sự cạnh tranh đến từ các ngân hàng khác nhau cùng hoạt động trong một khu vực.
Do đó, luận án này nghiên cứu tác động của TXĐTT đến RRTD và HQHĐ của các NHTMVN trong mối quan hệ với các yếu tố nội tại của các ngân hàng. Cạnh tranh và tiếp xúc đa thị trường 2. Cạnh tranh Thuật ngữ “Cạnh tranh” được sử dụng rất phổ biến hiện nay trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, thương mại, luật, chính trị, quân sự, sinh thái, thể thao. Có nhiều định nghĩa về cạnh tranh, trong kinh tế chính trị học thì cạnh tranh là sự ganh đua về kinh tế giữa những chủ thể trong nền sản xuất hàng hóa nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất, tiêu thụ hoặc tiêu dùng hàng hóa để từ đó thu được nhiều lợi ích nhất cho mình.
Cạnh tranh có thể xảy ra giữa những người sản xuất với người tiêu dùng (người sản xuất muốn bán đắt, người tiêu dùng muốn mua rẻ); giữa người tiêu dùng với nhau để mua được luan an 11 hàng rẻ hơn; giữa người sản xuất để có những điều kiện tốt hơn trong sản xuất và tiêu thụ. Theo Porter (1980) thì cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi.
Theo Mác: “Cạnh tranh tư bản chủ nghĩa (TBCN) là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật các điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu được lợi nhuận siêu ngạch”. Nghiên cứu sâu về nền sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa và cạnh tranh tư bản chủ nghĩa, Mác đã phát hiện ra quy luật cạnh tranh cơ bản là quy luật điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận bình quân giữa các ngành. Như vậy, cạnh tranh là việc giành lấy thị phần của các ngân hàng nhằm bán được nhiều sản phẩm và dịch vụ, cũng như chi phối được thị trường nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất. Tiếp xúc đa thị trường TXĐTT xảy ra khi hai hoặc nhiều doanh nghiệp đang cạnh tranh với nhau tại cùng một thời điểm và trong các thị trường khác nhau (sản phẩm hoặc địa điểm).
Khi các doanh nghiệp này tiếp xúc nhiều lần và ở nhiều nơi, cuộc TXĐTT này có thể dẫn tới một hiện tượng đặc biệt gọi là "nhượng bộ lẫn nhau". Các doanh nghiệp phải đối mặt với TXĐTT khi họ cạnh tranh với nhau cùng một lúc ở một số thị trường khác nhau. Người đầu tiên đưa ra ý tưởng là Edwards (1955), ý tưởng là khi một nhóm lớn cạnh tranh với nhau, họ có khả năng gặp nhau ở một số thị trường đáng kể và việc tiếp xúc nhiều lần có thể làm giảm cạnh tranh của họ. Nghiên cứu của Bernheim và Whinston (1990) đã chứng minh rằng TXĐTT khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện các thỏa thuận ngầm với nhau, mặt khác bản thân các doanh nghiệp cũng cải thiện tình hình hoạt động của mình để duy trì kết quả chung.
Một trong những kết quả nghiên cứu là các liên hệ đa thị trường có sự gia tăng giữa các doanh nghiệp nếu có sự bất cân xứng giữa các thị trường mà các doanh nghiệp này tương tác với nhau. Tuy luan an 12 nhiên, Spagnolo (1999) cho thấy các liên kết đa thị trường luôn có thể tạo điều kiện cho sự thông đồng, bất kể có hay không sự bất cân xứng giữa các thị trường. Kết quả này phụ thuộc vào sự không hoàn hảo của thị trường khiến cho mục tiêu các các công ty không đạt được. Matsushima (2001) cung cấp một hỗ trợ lý thuyết khác cho khả năng thông đồng ngầm giữa các công ty khi có TXĐTT, mở rộng phân tích đến trường hợp mà người chơi không thể theo dõi hoàn hảo các hành động của đối thủ của họ.
Trước thông tin không hoàn hảo, Thomas và Willig (2006) chứng minh rằng TXĐTT cũng tạo điều kiện cho sự thông đồng, nhưng nó có thể dẫn đến mức chi trả thấp hơn. Ngoài ra còn có một số đóng góp về mặt lý thuyết ủng hộ giả thuyết rằng TXĐTT làm tăng sự cạnh tranh. Trong khi thảo luận về các ngân hàng, Solomon (1970) khẳng định rằng sự kết nối giữa các thị trường có thể tăng cường tương tác cạnh tranh nếu sự cạnh tranh giữa các ngân hàng diễn ra gay gắt ở các thị trường địa phương riêng lẻ trong một khu vực nhất định. Mester (1992) sử dụng mô hình báo hiệu đồng thời để chỉ ra rằng trong TXĐTT hữu hạn có thể có tác động cạnh tranh ủng hộ nếu số lượng là biến số chiến lược.
Nhiều nghiên cứu cũng đã cố gắng phân tích thực nghiệm mối quan hệ giữa TXĐTT và cạnh tranh. Tuy nhiên, kết quả của họ không cung cấp bằng chứng rõ ràng ủng hộ giả thuyết chống cạnh tranh hoặc ủng hộ cạnh tranh. Như vậy, trong luận án này TXĐTT được hiểu là số ngân hàng trung bình mà một ngân hàng gặp ở một thị trường (Coccorese và Pellecchia, 2009). Hiệu quả và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại 2.
Hiệu quả Có nhiều khái niệm khác nhau về hiệu quả.