Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu Chương 2: Tổng quan lý thuyết Chương 3: Thực trạng tác động của rủi ro tới hiệu quả hoạt động của các NHTM tại Việt Nam Chương 4: Phương pháp nghiên cứu Chương 5: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 6: Kết luận - Giải pháp 7 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 2. Rủi ro trong hoạt động của các NHTM 2. Khái niệm rủi ro Rủi ro (Risk) xuất hiện trong hầu hết các lĩnh vực kinh doanh trên thị trường, bao gồm cả kinh doanh ngân hàng. Cho đến nay, chưa có khái niệm thống nhất về rủi ro, nhiều nghiên cứu thực nghiệm với các tác giả khác nhau và một số văn bản đưa ra các định nghĩa khác nhau về rủi ro.
Theo cách hiểu truyền thống, rủi ro mang tính “tiêu cực”. Theo quan điểm hiện đại của Chuẩn mực quốc tế thì: “Rủi ro là sự kết hợp của một sự kiện có thể xảy ra mà hệ quả của nó mang lại lợi ích hoặc tổn thất”. Như vậy, theo quan điểm hiện đại thì rủi ro được nhìn nhận theo cả mặt tích cực và tiêu cực, nó có thể đem lại bất lợi nhưng cũng mang lại nhiều cơ hội. Tuy nhiên, các nhà quản lý chủ yếu quan tâm đến kết quả “tiêu cực" Rủi ro là khả năng xảy ra tổn thất (tổn thất tài chính, tổn thất phi tài chính) làm giảm thu nhập, vốn tự có dẫn đến làm giảm tỷ lệ an toàn vốn hoặc hạn chế khả năng đạt được mục tiêu kinh doanh của NHTM, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
(Thông tư 14/2023/TT-NHNN) Rủi ro trong hoạt động ngân hàng dưới sự phân tích và tổng hợp của tác giả là những nguy cơ xảy ra những có thể dự báo được trước hoặc là không thể, khó nắm bắt và khó lường trước, dẫn đến sự tổn thất về tài sản của ngân hàng, sự giảm sút trong doanh thu, hoặc đặt ngân hàng vào tình trạng khó khăn tài chính. Các loại rủi ro cơ bản trong hoạt động của NHTM Sự tồn tại của các ngân hàng có thể bị đe dọa bởi bốn rủi ro chính: RRTD, RRTT, RRHĐ và RRTK (Puspitasari và cộng sự 2021). Những rủi ro này, nguồn gốc của chúng, chiến lược quản lý và ảnh hưởng của chúng đến HQHĐ của ngân hàng sẽ là trọng tâm của nghiên cứu này.1: Phân loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng 2. Rủi ro tín dụng 2.
Khái niệm rủi ro tín dụng Trong bộ Nguyên tắc quản trị rủi ro tín dụng của Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng ban hành tại thời điểm tháng 9/2000 có đề cập: RRTD được định nghĩa một cách đơn giản nhất là khả năng bên vay nợ ngân hàng hoặc bên đối tác không đáp ứng các nghĩa vụ của mình theo các điều khoản đã thỏa thuận” Theo Thông tư 14/2023/TT-NHNN, rủi ro tín dụng là (i) rủi ro do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng hoặc thỏa thuận với TCTD phi ngân hàng. Như vậy, bản chất của rủi ro tín dụng là thiệt hại mà ngân hàng phải gánh chịu khi khách hàng không trả, hoặc không trả đúng hạn, hoặc không trả đầy đủ cả gốc và lãi cho ngân hàng. Tuy nhiên, rủi ro tín dụng không chỉ giới hạn ở hoạt động cho vay mà còn bao gồm nhiều hoạt động tín dụng khác của ngân hàng như: chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh, mở L/C, cam kết thanh toán và các hình thức tài trợ thương 9 mại khác. RRTD là rủi ro chính và không thể tránh khỏi trong hoạt động ngân hàng do tính chất đặc biệt của ngành với hoạt động cấp tín dụng là chủ yếu.
Chỉ tiêu đánh giá rủi ro tín dụng ● Chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn: Nợ quá hạn phát sinh khi khoản vay đến hạn mà khách hàng không hoàn trả được toàn bộ hay một phần tiền gốc hoặc lãi vay. Nợ quá hạn thường là biểu hiện yếu kém về tài chính của khách hàng và là dấu hiệu RRTD cho ngân hàng. Tỷ lệ Nợ quá hạn cao chứng tỏ chất lượng tín dụng thấp - RRTD cao; ngược lại, tỷ lệ quá hạn thấp chứng tỏ chất lượng tín dụng cao - RRTD thấp. 𝑇ố 𝑇ư 𝑇ợ 𝑇𝑇á ℎạ𝑇 𝑇ỷ 𝑇ệ 𝑇ợ 𝑇𝑇á ℎạ𝑇 = 𝑇 100% 𝑇ổ𝑇𝑇 𝑇ư 𝑇ợ ● Chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu: “Nợ xấu" (Non-Performance Loan-NPL) là các khoản nợ thuộc nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (Nợ nghi ngờ), nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn).
Tỷ lệ nợ xấu là một chỉ tiêu cơ bản đánh giá chất lượng tín dụng của ngân hàng. Nợ xấu phản ánh khả năng thu hồi vốn khó khăn, vốn của ngân hàng lúc này không còn ở mức độ rủi ro thông thường nữa mà là nguy cơ mất vốn. Tỷ lệ nợ xấu được sử dụng trong hầu hết các nghiên cứu để đại diện cho mức độ RRTD của ngân hàng (Gadzo, 2019; Tamakloe và cộng sự, 2023; Përvetica và Ahmeti, 2023) 𝑇ợ 𝑇ấ𝑇 𝑇ỷ 𝑇ệ 𝑇ợ 𝑇ấ𝑇 = 𝑇 100% 𝑇ổ𝑇𝑇 𝑇ư 𝑇ợ ● Tỷ lệ dự phòng rủi ro/tổng dư nợ Theo Thông tư 14/2023/TT-NHNN: dự phòng rủi ro bao gồm: dự phòng chung và dự phòng cụ thể. Số tiền dự phòng cụ thể phải trích lập được tính theo công thức: R = max{0,(A-C)} x r Trong đó: R: số tiền dự phòng cụ thể phải trích A: giá trị khoản nơj C: giá trị tài sản bảo đảm r: tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể 10 Tỷ lệ trích lập dự phòng chung: TCTD trích lập dự phòng chung bằng 0.75% tổng giá trị của các khoản nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4.
Hai tỷ lệ này càng cao chứng tỏ RRTD càng cao vì dự phòng trích lập nhiều sẽ làm tăng chi phí của ngân hàng dẫn đến giảm lợi nhuận thậm chí gây thua lỗ cho ngân hàng. Tỷ lệ dự phòng rủi ro/tổng dư nợ 𝑇ổ𝑇𝑇 𝑇𝑇ỹ 𝑇ự 𝑇ℎò𝑇𝑇 𝑇ủ𝑇 𝑇𝑇 𝑇ỷ 𝑇ệ 𝑇𝑇𝑇𝑇 = 𝑇 100% 𝑇ổ𝑇𝑇 𝑇ư 𝑇ợ Tổng quỹ dự phòng rủi ro của ngân hàng gồm 2 quỹ: quỹ dự phòng rủi ro chung và quỹ dự phòng rủi ro cụ thể. Tỷ lệ DPRR trong kỳ càng lớn nghĩa là tổng quỹ dự phòng rủi ro của NHTM tăng cao; DPRR chung phụ thuộc vào tốc độ tăng trưởng dư nợ của ngân hàng; như vậy, khi tỷ lệ DPRR tăng nghĩa là DPRR cụ thể của NHTM tăng phản ánh ngân hàng đang nguy cơ tiềm ẩn RRTD của NHTM. Khi quỹ dự phòng của ngân hàng tăng, đồng nghĩa với việc chi phí ngân hàng tăng cao; như vậy sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận trong kỳ cũng như kết quả hoạt động kinh doanh trong tương lai của ngân hàng.
● Chỉ tiêu mức độ tập trung tín dụng Ngân hàng phải nhận dạng rủi ro tập trung tối thiểu trong hoạt động cấp tín dụng, hoạt động giao dịch tự doanh, bao gồm: a) Các khoản mục được hạch toán là khoản mục nội bảng, khoản mục ngoại bảng của ngân hàng; b) Các khoản mục chưa được hạch toán theo quy định của pháp luật về kế toán. - Chỉ số tập trung hóa: là tổng thị phần % của k - khoản vay lớn nhất trên bảng cân đối trong danh mục CRkt =∑𝑇 𝑇=1 Sit Trong đó: • CRkt là chỉ số tập trung cho vay của k khoản vay lớn nhất được chọn tại thời điểm t • Sit là tỷ lệ (%) của khoản vay thứ i (nằm trong các khoản vay được chọn) - Chỉ số HHI: đo lường mức độ tập trung của danh mục cho vay ngân hàng. Đo lường rủi ro tập trung tín dụng khách hàng 11 𝑅𝑅𝑅𝑅 2 HHIkhách hàng =∑𝑇 𝑇=1 ( ) 𝑇ổ𝑇𝑇 𝑇𝑇𝑇 Trong đó: • RWAi: tài sản có rủi ro của khách hàng i • Tổng RWA là tổng TSC rủi ro của ngân hàng trừ đi giá trị của danh mục bán lẻ và nợ xấu - Tỷ trọng dư nợ cho vay 20 khách hàng lớn nhất/Tổng dư nợ. - Tỷ trọng cho vay, bảo lãnh của 1 khách hàng lớn/vốn tự có.
- Tỷ trọng cho vay 1 nhóm khách hàng liên quan/Vốn tự có. Rủi ro thị trường 2. Khái niệm rủi ro thị trường Rủi ro thị trường (RRTT) được định nghĩa là “khả năng xảy ra mất mát đối với ngân hàng do sự thay đổi của các yếu tố thị trường. Đó là rủi ro mà giá trị của các trạng thái nội hoặc ngoại bảng cân đối kế toán chịu ảnh hưởng bất lợi bởi những biến động trong thị trường chứng khoán, lãi suất, tỷ giá hối đoái hay giá cả hàng hoá, hay là rủi ro đối với thu nhập và vốn của ngân hàng do sự thay đổi trên thị trường về lãi suất về giá chứng khoán, tỷ giá, giá cả hàng hoá" (R.
Managing Market risk, 2006, trang 845). RRTT có thể nhận diện rõ ràng đối với các sản phẩm trong danh mục sổ kinh doanh của ngân hàng như cổ phiếu, trái phiếu, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, hợp đồng hoán đổi, hợp đồng quyền chọn, giá cả hàng hoá, hợp đồng chỉ số giá cả hàng hóa… do các sản phẩm này được giao dịch trực tiếp. RRTT còn được nhận diện qua các sản phẩm chịu rủi ro ngoại hối, các khoản mục tài sản có, nợ bằng ngoại tệ, các sản phẩm phái sinh bằng ngoại tệ. Một cách tổng quát nhất có thể hiểu RRTT là rủi ro do biến động bất lợi của lãi suất, tỷ giá, giá chứng khoán và giá cả hàng hoá khi các nhân tố này biến động ngược chiều với dự đoán của ngân hàng.
Chỉ tiêu đo lường ● Đo lường RRTT bằng giá trị có thể tổn thất (VaR) Hiện tại, RRTT được đo lường chủ yếu thông qua VaR, đây là công cụ phổ biến được dùng ở hầu hết các ngân hàng lớn trên thế giới. 12 Mục 693, Basel II: ’’Đánh giá RRTT chủ yếu dựa vào thước đo VaR của bản thân ngân hàng hoặc là cách tiếp cận chuẩn hóa đế đánh giá RRTT (xem Bản Sửa đối đối Hiệp ước vốn phòng ngừa các RRTT hợp nhất 1996). Cũng cần phải lưu ý đến các cuộc thử nghiệm mức độ chống đỡ các tình huống xấu (stress testing) được thực hiện trong khuôn khổ đánh giá mức độ an toàn vốn để thực hiện các chức năng thương mại.” VaR là phương pháp được sử dụng để tính toán RRTT. Phương pháp VaR chỉ ra mức lỗ tiềm năng được kỳ vọng không vượt quá một phần trăm nhất định trên số ngày giao dịch, trong đó X là mức độ tin cậy được chọn.