Phần Mở đầu: Trình bày lý do nghiên cứu, mục tiêu, đối tƣợng, phƣơng pháp nghiên cứu. - Phần Nội dung: bao gồm 3 chƣơng: + Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết về tác động của quản trị vốn lƣu động đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Chƣơng này trình bày cơ sở lý thuyết liên quan đến vốn lƣu động, quản trị vốn lƣu động, khả năng sinh lời của doanh nghiệp, mối quan hệ giữa chúng; và các nghiên cứu thực nghiệm trƣớc đây về mối quan hệ này. + Chƣơng 2: Thiết kế nghiên cứu Chƣơng này sẽ giới thiệu đặc điểm và thực trạng ngành sản xuất hàng tiêu dùng; trình bày dữ liệu nghiên cứu, giả thuyết & mô hình nghiên cứu, cách đo lƣờng các biến trong mô hình; các phƣơng pháp ƣớc lƣợng mô hình.
6 + Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu và các hàm ý đề xuất từ kết quả nghiên cứu. Chƣơng này sẽ trình bày kết quả ƣớc lƣợng mô hình và đƣa ra các hàm ý từ kết quả nghiên cứu. - Phần Kết luận và kiến nghị: Phần này sẽ tóm tắt các kết quả nghiên cứu chính của đề tài và những đóng góp quan trọng từ nghiên cứu; cũng nhƣ chỉ ra các giới hạn trong nghiên cứu và đƣa ra các kiến nghị. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Thứ nhất, tác giả đã tìm hiểu lý thuyết về tác động của quản trị vốn lƣu động đến khả năng sinh lời trong doanh nghiệp từ những nghiên cứu trƣớc đây trên thế giới cũng nhƣ các nghiên cứu trong nƣớc.
Việc tổng hợp này có ý nghĩa giúp các nhà nghiên cứu tiếp theo tiếp cận lý thuyết tác động của quản trị vốn lƣu động đến khả năng sinh lời trong doanh nghiệp một cách hệ thống và dễ dàng hơn. Thứ hai, tác giả đề xuất mô hình thể hiện sự tác động của quản trị vốn lƣu động đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp ngành sản xuất hàng tiêu dùng trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2012 – 2014. Kết quả cho thấy việc quản trị vốn lƣu động có ảnh hƣởng đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Điều này đƣợc giải thích qua các nhân tố hệ số quay vòng phải thu, hệ số quay vòng hàng tồn kho, tỷ trọng tài sản tài chính và tỷ số chi phí bán hàng trên tài sản có ảnh hƣởng cùng chiều đến khả năng sinh lời; các nhân tố tỷ số nợ, quy mô doanh nghiệp lại có ảnh hƣởng ngƣợc chiều đến khả năng sinh lời.
Điều này mang lại ý nghĩa rất quan trọng cho các nhà quản trị doanh nghiệp, để tăng khả năng sinh lời thì cần quan tâm đến những yếu tố nào, quản trị nó ra sao để đạt đƣợc mục tiêu lợi nhuận. Kết quả nghiên cứu đã mang đến những gợi ý cho nhà quản trị của doanh nghiệp ngành sản xuất hàng tiêu dùng muốn tăng khả năng sinh lời cần chú trọng đến khả năng quay 7 vòng khoản phải thu, tăng tốc đô luân chuyển hàng tồn kho, tăng tỷ trọng tài sản tài chính và đầu tƣ đúng mức vào chi phí bán hàng để đạt đƣợc khả năng sinh lời mong muốn, nhƣng qua đó cũng phải nhận ra rằng các nhân tố nhƣ tăng tỷ số nợ hay tăng quy mô doanh nghiệp sẽ mang lại tác động tiêu cực đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp ngành sản xuất hàng tiêu dùng trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam. Thứ ba, tác giả đề xuất một số hàm ý giải pháp mang tính khoa học nhằm cải thiện công tác quản trị vốn lƣu động nhằm góp phần nâng cao khả năng sinh lời của các doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, đáp ứng yêu cầu phát triền và hội nhập kinh tế. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Quản trị vốn lƣu động giữ vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Mục tiêu của quản trị vốn lƣu động là duy trì tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn ở mức thích hợp, vừa đủ cho hoạt động sản xuất của doanh nghiệp [2]. Với tầm quan trọng đó, nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới đã tập trung phân tích tác động của quản trị vốn lƣu động đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Một kết quả nghiên cứu đầu tiên cho thấy lợi nhuận hoạt động gộp của doanh nghiệp có mối quan hệ nghịch với kỳ luân chuyển hàng tồn kho và kỳ thu tiền bình quân của tác giả Deloof [10] thực hiện năm 2003 đã phân tích 1.009 doanh nghiệp phi tài chính của Bỉ từ 1992 – 1996. Ông khuyến cáo rằng lợi nhuận có liên quan đến quản trị vốn lƣu động của doanh nghiệp; có thể nâng cao lợi nhuận bằng cách tăng thời hạn thanh toán trung bình, giảm kỳ luân chuyển hàng tồn kho và kỳ thu tiền bình quân.
Một nghiên cứu khác của Padachi [21] năm 2006 đã phân tích quản trị vốn lƣu động và mối quan hệ với lợi nhuận bằng cách kiểm tra mẫu gồm 58 doanh nghiệp sản xuất nhỏ của Mauritius trong thời gian từ 1998 – 2003. Ông 8 đã sử dụng số ngày các khoản phải thu, kỳ luân chuyển hàng tồn kho, số ngày các khoản phải trả và chu kỳ chuyển đổi tiền mặt làm biến giải thích, lấy lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) làm biến phụ thuộc. Kết quả ông rút ra rằng nếu doanh nghiệp đầu tƣ mạnh vào hàng tồn kho và các khoản phải thu thì lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ thấp đi. Năm 2010, Binti Mohamad và Mohd Saad [5] đã dựa trên dữ liệu thứ cấp của 172 công ty của Malaysia trong khoảng thời gian 5 năm, từ 2003 – 2007.
Họ sử dụng các nhân tố nhƣ chu kỳ chuyển đổi tiền mặt, tỷ lệ nợ, tài sản lƣu động trên tổng tài sản, nợ ngắn hạn trên tổng tài sản và tỷ lệ thanh toán hiện hành làm biến độc lập; lợi nhuận trên vốn đầu tƣ (ROE) và lợi nhuận trên tài sản (ROA) đƣợc sử dụng để làm thƣớc đo của hoạt động tài chính của các doanh nghiệp đƣợc lựa chọn. Kết quả cho thấy mối quan hệ nghịch giữa các thành phần vốn lƣu động khác nhau với hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp. Tại Việt Nam trong những năm gần đây cũng đã có những nghiên cứu về tác động quản trị vốn lƣu động đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp. Bài nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Hân [32] vào năm 2012 sử dụng phƣơng pháp hồi quy OLS dựa trên mẫu 24 công ty thủy sản trên sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn từ 2008 – 2010.
Biến phụ thuộc ROA đƣợc dùng làm thƣớc đo khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra mối tƣơng quan đồng biến giữa kỳ thu tiền khách hàng, kỳ chuyển đổi hàng tồn kho, chu kỳ chuyển đổi tiền mặt với tỷ suất sinh lời, đòn bẩy tài chính có tƣơng quan âm với khả năng sinh lợi của doanh nghiệp. Chu Thị Thanh Thủy [29] đã kiểm tra mối quan hệ giữa quản trị vốn lƣu động với khả năng sinh lời của 97 công ty cổ phần công nghiệp chế biến, chế tạo niêm yết trên HOSE trong năm 2012. Dữ liệu thu thập đƣợc phân tích bằng phân tích tƣơng quan Pearson và phân tích hồi 9 quy OLS, kết quả nghiên cứu đã chỉ rõ có mối tƣơng quan giữa quản trị vốn lƣu động và khả năng sinh lời.
Hơn nữa, nghiên cứu chỉ ra mối tƣơng quan mạnh giữa tỷ lệ đầu tƣ vào tài sản tài chính, quy mô công ty, đòn bẩy tài chính và khả năng sinh lời. Một nghiên cứu khác từ ThS. Từ Thị Kim Thoa và TS. Nguyễn Thị Uyên Uyên [43] vào năm 2014 đã sử dụng phân tích dữ liệu bảng gồm 208 công ty phi tài chính niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội trong giai đoạn 2006 – 2012, bằng các phƣơng pháp ƣớc lƣợng bình phƣơng tối thiểu (Pooled OLS), mô hình hiệu ứng cố định (FEM) và bình phƣơng tối thiểu tổng quát (GLS) kiểm định mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lời ở các doanh nghiệp Việt Nam.
Kết quả cho thấy việc quản trị vốn luân chuyển hiệu quả bằng cách rút ngắn kỳ thu tiền và kỳ lƣu kho sẽ tăng khả năng sinh lợi cho các doanh nghiệp. Nhóm tác giả còn nghiên cứu mối quan hệ này ở một số ngành khác nhau và kết quả cho thấy do đặc điểm ngành khác nhau nên mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lời giữa các ngành cũng khác nhau. Và còn nhiều nghiên cứu của nhiều tác giả khác đã tập trung nghiên cứu đề tài này. Nhìn chung, các nghiên cứu trong và ngoài nƣớc đều có những phân tích, đánh giá khác nhau về các chiều cạnh của tác động của quản trị vốn lƣu động đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp.
Tuy vậy, bên cạnh những đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn, các nghiên cứu trƣớc vẫn còn một số hạn chế sau: Một là, một số nghiên cứu còn sử dụng phƣơng pháp ƣớc lƣợng OLS để ƣớc lƣợng mô hình hồi quy dữ liệu bảng (panel data), chẳng hạn nhƣ nghiên cứu của Padachi (2006) nghiên cứu trên 58 doanh nghiệp trong thời gian từ 1998 – 2003… 10 Hai là, đa phần các nghiên cứu đều sử dụng ROA, ROE để đại diện cho khả năng sinh lời. Trong khi đó, để đo lƣờng khả năng sinh lời thì chỉ tiêu tỷ lệ lợi nhuận hoạt động gộp NOP (Net operating profitability) là phù hợp nhất do lợi nhuận gộp là một trong các chỉ báo đầu tiên về khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, gắn với “Thành công” hoặc “Thất bại” của hoạt động kinh doanh, không tính đến hoạt động tài chính [42]. Tuy nhiên, không có nhiều nghiên cứu sử dụng chỉ tiêu này để đại diện cho khả năng sinh lời. Ba là, ở Việt Nam, các nghiên cứu về tác động của quản trị vốn lƣu động đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp chỉ mới tiếp cận ở góc độ phổ quát và các ngành thủy sản, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo hoặc ngành thực phẩm đồ uống hay ngành xây dựng.
Và đến nay, chƣa có một nghiên cứu nào về tác động của quản trị vốn lƣu động đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp trong ngành sản xuất hàng tiêu dùng ở Việt Nam. Nhƣ vậy, từ những hạn chế nêu trên, đề tài đã thực hiện mô hình hồi quy dữ liệu bảng (panel data) để lựa chọn một trong ba mô hình hồi quy dữ liệu bảng là mô hình ƣớc lƣợng bình phƣơng nhỏ nhất (Pooled OLS) hoặc mô hình ảnh hƣởng cố định (FEM) hoặc mô hình ảnh hƣởng ngẫu nhiên (REM) để ƣớc lƣợng mô hình.