Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Hàm ý quản trị Luan van 7 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý thuyết về động lực làm việc 2.1 Khái niệm về động lực làm việc Động cơ là lý do thúc đẩy hành vi Guay và cộng sự (2010) trang 712 (được trích trong Lai (2011) trong khi đó Broussard và Garrison (2004) (được trích trong Lai (2011)) định nghĩa động cơ như sau: “Đó chính là thuộc tính mà nó thúc đẩy chúng ta làm hoặc không làm điều gì đó”. Khái niệm về động cơ dùng để giải thích vì sao con người có cách hành động và hành xử như vậy, động cơ giải thích vì sao con người duy trì hành động của họ và giúp họ thành công Graham và Weiner (1996); Pictrich (2003) (được trích trong Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang (2009) trang 325- 326). Động cơ giúp thiết lập và làm gia tăng chất lượng của quá trình nhận thức và điều này dẫn đến thành công. “Động lực làm việc hoặc động viên khuyến khích trong công việc (Work motivation) là một khái niệm phong phú, đa chiều vẫn chưa có sự thống nhất, có nhiều tranh cãi trong nhận thức khoa học và cả khi vận dụng vào thực tiễn.
Động lực làm việc là sự khát khao và tự nguyện của con người nhằm tăng cường sự nỗ lực để đạt được mục đích hay một kết quả cụ thể, Nói cách khác động lực bao gồm tất cả những lý do khiến con người hành động Bùi Thị Thu Minh và Lễ Nguyễn Đoan Khôi (2014) Động lực cũng chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố, các nhân tố này luôn thay đổi và khó nắm bắt. Chúng được chia thành ba loại yếu tố cơ bản đó là: Loại 1. Những yếu tố thuộc về con người tức là những yếu tố xuất hiện trong chính bản thân con người thúc đẩy con người làm việc như: lợi ích của con người, mục tiêu cá nhân, thái độ của cá nhân, khả năng và năng lực của cá nhân, thâm niên, kinh nghiệm công tác. Các nhân tố thuộc môi trường là những nhân tố bên ngoài có ảnh hưởng đến người lao động như: văn hoá của doanh nghiệp, các chính sách về nhân sự.
Các yếu tố thuộc về nội dung bản chất công việc là yếu tố chính quyết định ảnh hưởng đến thù lao lao động và mức tiền lương của người công nhân trong tổ chức như: tính ổn định và mức độ tự chủ của công việc, mức độ khác nhau về nhiệm Luan van 8 vụ, trách nhiệm, sự phức tạp của công việc, sự hấp dẫn và thích thú trong công việc (Nguyễn Vân Điềm, Nguyễn Ngọc Quân (2007) trang 128) Dựa trên các khái niệm này, tác giả nhận thấy: Động lực làm việc là một tập hợp các động lực xuất phát từ cả bên trong và bên ngoài một cá nhân, từ đó quy định hành vi của cá nhân đó trong công việc và xác định phương thức, đường lối, nhiệt huyết và thời gian của họ trong công việc. Do đó, động lực làm việc là một quá trình tâm lý dựa trên mối tương quan giữa một cá nhân với môi trường xung quanh. Trong khi đó động lực nội tại hay động lực bên trong (Intrinsic Motivation) là động lực có nguồn gốc từ sự hấp dẫn và thỏa mãn cố hữu của bản thân hành vi mà động lực đó thúc đẩy. Nói cách khác, động lực nội tại được gói gọn bên trong hành vi và không cần thêm bất cứ một nguồn gốc nào khác nằm ngoài hành vi đó.
Với 1 công việc nào đó , đó chính là sự sai mê, thách thức hoặc là sự thỏa mãn của chính cá nhân đó hơn là việc thực hiện công việc đó từ động cơ ở bên ngoài tác động vào cá nhân đó ví dụ như bị giám sát, sự tranh đua hoặc bị yêu cầu bởi một tác nhân nào đó theo Amabile (2012) 2.2 Khái niệm về động cơ bên trong Theo thuyết tự quyết (Self-determination Theory) người ta phân loại động cơ như sau: Thuyết tự quyết cho rằng động lực tinh thần của con người có thể được chia ra làm 3 phân loại Bùi Thị Thúy Hằng (2011), dựa trên tương quan giữa động lực và hành vi mà động lực đó thúc đẩy: động lực nội tại (instrinsic motivation) và động lực bên ngoài (extrinsic motivation), và không có động lực. Những nhà nghiên cứu thường đưa ra sự khác nhau giữa động cơ bên trong và động cơ bên ngoài như Ryan và Deci (2000) đưa ra 2 khái niệm về động cơ bên trong và động cơ bên ngoài như sau: Động cơ bên trong được định nghĩa như là một hoạt động gắn liền với sự thỏa mãn hơn là những hành động độc lập riêng biệt. Khi được thúc đẩy bởi những hành động từ bên trong, một người sẽ được kích thích hành động vì mục đích tiêu khiển, thách thức hơn là hành động vì kết quả, làm việc vì những yếu tố bên ngoài, phần Luan van 9 thưởng hay sức ép nào khác. Quan điểm này phù hợp với định nghĩa của Warr, Cook và Wall (1979) (trích dẫn trong Suteerawut và cộng sự (2016)) “ Là mức độ mà một người làm tốt công việc của chính họ với mục đích làm thỏa mãn từ bên trong suy nghĩ của họ”.
Trong khi động cơ từ bên ngoài là những động lực mà nó gắn liền với những hoạt động nhằm vào 1 kết quả cụ thể, vì vậy động cơ bên ngoài khác với động cơ bên trong đơn giản vì động cơ bên trong là những hoạt động nhằm vào sự thích thú của chính hoạt động đó mang lại. Một số tác giả khác cho rằng “Động cơ làm việc được thể hiện thông qua quá trình tâm lý nhằm tạo ra sự kích thích, điều khiển, và kiên trì thực hiện của các hoạt động tự nguyện theo mục tiêu đã được định hướng. Tuy nhiên, lý thuyết và thực tiễn về động cơ làm việc trước đây tập trung chủ yếu vào các yếu tố bên ngoài thúc đẩy động cơ làm việc dựa trên phần thưởng vật chất như: lương, thưởng, hệ thống đánh giá, môi trường làm việc, bản chất công việc. Mặc dù, các nghiên cứu này thực hiện ở những hoàn cảnh xã hội khác nhau, nhưng phần lớn các nghiên cứu dựa vào những yếu tố bên ngoài tác động đến động cơ là chủ yếu.
Điều này chưa lột tả hết bản chất của vấn đề, vì động cơ làm việc của một người không chỉ bị tác động bởi những yếu tố bên ngoài mà còn bị thúc đẩy bởi nội lực bên trong. Để tìm hiểu nội lực bên trong thì Deci và Ryan (2000) đã đặt ra câu hỏi "tại con người lựa chọn công việc (hành động) này để thực hiện? Theo thuyết tự quyết, động lực bên ngoài gồm 4 cấp độ khác nhau: - Điều chỉnh bên ngoài (External Regulation): Các hành vi được thực hiện bởi những yêu cầu từ bên ngoài, để đạt được một phần thưởng hay tránh một hình phạt. Ví dụ nhân viên cố gắng có thành tích nhằm để đạt được phần thưởng. - Điều chỉnh hội nhập (introjected regulation): Đây là một loại động cơ bị kiểm soát.
Trong trường hợp này, các cá nhân thực hiện hành vi bởi các sức ép từ bên trong. Ví dụ nhân viên cố gắng không vi phạm nội quy công ty vì sẽ thấy mắc cở với đồng nghiệp khi vi phạm. - Điều chỉnh đồng nhất (identified regulation): Động cơ này xuất hiện khi cá nhân đánh giá cao hành vi đang thực hiện, thấy nó là quan trọng và lựa chọn hành vi đó một cách tự nguyện. Ví dụ nhân viên tự nguyện tham gia các lớp Luan van 10 phòng cháy chữa cháy do công ty phát động vì làm như vậy có thể bảo vệ được chính mình.
- Điều chỉnh hợp nhất (integrated regulation): Ở loại động cơ này, các hành vi được thực hiện bởi vì nó hoàn toàn phù hợp với cá nhân. Ví dụ nhân viên tự nguyện tham gia học bồi dưỡng văn bởi vì nó giúp nâng cao trình độ cho chính mình và giúp cải thiện hiệu quả công việc tại công ty vì cả 2 mục đích này hợp nhất cùng nhau. Trong khi đó động lực nội tại hay động lực bên trong (Intrinsic Motivation) là động lực có nguồn gốc từ sự hấp dẫn và thỏa mãn cố hữu của bản thân hành vi mà động lực đó thúc đẩy. Nói cách khác, động lực nội tại được gói gọn bên trong hành vi và không cần thêm bất cứ một nguồn gốc nào khác nằm ngoài hành vi đó.
Với 1 công việc nào đó , đó chính là sự sai mê, thách thức hoặc là sự thỏa mãn của chính cá nhân đó hơn là việc thực hiện công việc đó từ động cơ ở bên ngoài tác động vào cá nhân đó. Ví dụ như bị giám sát, sự tranh đua hoặc bị yêu cầu bởi một tác nhân nào đó theo Amabile (2012). Động cơ bên trong (Intrinsic motivation) đôi khi lẫn lộn với động cơ bên trong tổ chức (Internal motivation), suy nghĩ theo cách truyền thống, những nhà giáo dục xem động cơ bên trong sẽ đưa đến kết quả hành động trong học tập tốt hơn là động cơ từ bên ngoài Deci và cộng sự (1999). Mặc dù, động cơ làm việc đã được nghiên cứu từ rất sớm, với nhiều định nghĩa khác nhau nhưng vẫn có sự thống nhất chung là động cơ để xác định hành động là như nhau Gagné và Deci (2005) (trích dẫn trong Nguyễn Thị Phương Dung (2016)).Trong thực tế, mục tiêu của các nhà nghiên cứu trước đây về động cơ làm việc đã không tìm hiểu nguyên nhân tại sao nhân viên thực hiện công việc của mình; thay vào đó, các nhà nghiên cứu lại tìm cách làm thế nào để kích thích nhân viên thực hiện các nhiệm vụ và trách nhiệm của tổ chức giao.
Trong nghiên cứu này, định nghĩa về động cơ làm việc của Amabile (1983) (trích dẫn trong Jong và Hartog (2008) và Amabile và cộng sự (1994) được tác giả kế thừa động cơ bên trong được định nghĩa như là động cơ được thúc đẩy từ những phản Luan van 11 ứng tích cực của cá nhân tới chính công việc đó hơn là những tác nhân từ bên ngoài công việc. Cơ sở lý thuyết về các phong cách lãnh đạo.2 Khái niệm lãnh đạo và phong cách lãnh đạo 2.1 Khái niệm về lãnh đạo Có khá nhiều định nghĩa về lãnh đạo, với góc nhìn riêng có của mỗi cá nhân, chung quy lại lãnh đạo là quá trình gây ảnh hưởng nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức. Sau đây là một vài những quan điểm về lãnh đạo.