Đặt vấn đề Tăng năng suất lao động là nhằm bảo đảm cho sản xuất phát triển và đời sống con người được nâng cao. Nhờ tang nang suất lao động mà khối lượng sản phẩm vật chất và dịch vụ của xã hội tăng. Năng suất lao động xã hội tăng lên là yeu tố quyết định nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, gop phan mở rộng quan hệ và hợp tác quốc tế, thúc đây hội nhập v. Chuyền dịch cơ cấu kinh tế theo hướng nâng cao năng suất lao động xã hội đã được Đảng và Nhà nước ta xác định là hướng đi tất yếu để đưa đất nước thoát khỏi tình trạng lạc hậu, chậm phát triển trở thành một quốc gia văn minh, hiện đại.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, chuyển dịch cơ cấu kinh tế vẫn chưa mang lại mức tăng thực sự bền vững về năng suất lao động xã hội. Do đó, việc nhận diện các yếu tố nào trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế đem lại mức tăng năng suất lao động xã hội cao là rất có ý nghĩa thực tiễn. Mối quan hệ giữa năng suất lao động và chuyển dịch cơ cầu ngành kinh tế 2. Năng suất lao động Năng suất lao động là chỉ tiêu đo lường hiệu quả sử dụng lao động cụ thể trong quá trình sản xuất, đặc trưng bởi quan hệ so sánh giữa một chỉ tiêu đầu ra (kết quả sản xuất) với lao động để sản xuất ra nó.
Ở từng đơn vị kinh tế (như công ty và các loại hình doanh nghiệp khác), năng suất lao động đo bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trên một đơn vị thời gian, hoặc thời gian cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm. Còn ở phạm vi toàn nền kinh tế, năng suất lao động biểu hiện thành năng suất lao động xã hội (LP), được xác định trên cơ sở tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản phẩm quốc đân (GNP) chia cho số lượng lao động đang làm việc ở mỗi thời kì trong nền kinh tế (L). Đây là con đường tăng tong sản phâm xã hội không có giới hạn, vì nó phụ thuộc vào sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật, mà sự tiến bộ này đã được thực tiễn chứng minh là vô hạn. Thực tiễn nước ta hiện nay, tăng năng suất lao động được coi là vẫn đề có tầm quan trọng hàng đầu, là một trong ba đột phá chiến lược để chuyên đổi mô hình tăng trưởng, tái cấu trúc nền kinh tế, và là lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững (Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, 201 1).
Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh té Cơ cấu ngành kinh tế là tương quan giữa các ngành trong tổng thê kinh tế, thể hiện mối quan hệ hữu cơ và sự tác động qua lại cả về số và chất lượng giữa các ngành với nhau. Cơ cầu ngành kinh tế luôn thay đổi theo từng thời kì phát triển bởi các yếu tố hợp thành cơ cầu không cố định. Quá trình thay đổi cơ cầu của ngành từ trạng thái này sang trạng thái khác và ngày càng hoàn thiện hơn, phù hợp với môi trường và điều kiện phát triển gọi là sự chuyên dịch cơ cấu ngành kinh tế (Phạm Ngọc Linh & Nguyễn Thị Kim Dung, 201 1). Xét trên khía cạnh tăng trưởng và phát triển kinh tế thì cơ cầu ngành được xem là quan trọng nhất, được quan tâm nghiên cứu nhất vì nó phản ánh sự phát triển của khoa học công nghệ, lực Tạp chí Phát triển kinh tế 273 (07/2013) 17-25 Nguyễn Quốc Tế & Nguyễn Thị Dong | 19 lượng sản xuất, phân công lao động, chuyên môn hóa và hợp tác hóa sản xuất.
Trạng thái cơ cấu ngành là đấu hiệu phản ánh trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Quá trình chuyén dich cơ cầu ngành là một quá trình diễn ra liên tục và gắn với sự phát triển kinh tế. Mặt khác, nhịp độ phát triển và tính chất bền vững của quá trình tăng trưởng kinh tế lại phụ thuộc vào khả năng chuyển dịch cơ cấu ngành linh hoạt, phù hợp với những điều kiện bên trong, bên ngoài và các lợi thế tương đối của nền kinh tế. Mi quan hệ giữa tăng năng suất lao động và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tẾ Khi xem xét tác động của chuyển dịch cơ cấu kinh tế đến tốc độ tăng năng suất lao động, các nhà kinh tế giả định rằng trong điều kiện các yếu tố khác như thiết bị, vốn/lao dong, lao dong cé trình độ tay nghé chuyên môn nhất định.
là không đổi, thì chuyền dịch cơ cấu ngành kinh tế là nguyên nhân quan trọng dẫn đến tăng năng suất lao động xã hội. Theo mô hình hai khu vực của Lewis, nền kinh tế bao gồm: Khu vực nông nghiệp nông thôn truyền thống với năng suất thấp, và khu vực công nghiệp thành thị hiện đại với năng suất cao. Khu vực nông thôn dư thừa lao động trong khi có sự toàn dụng nhân công ở khu vực công nghiệp. Do đó, việc dịch chuyên lao động từ khu vực nông nghiệp sang công nghiệp sẽ khiến cho năng suất lao động của toàn bộ nền kinh tế tăng lên (E.
Ngay cả trong nội bộ mỗi ngành (Ví dụ ngành công nghiệp) cũng sẽ có sự dịch chuyển lao động từ những ngành có năng suất lao động thấp (như ngành dệt- may) sang những ngành có năng suất lao động cao hơn (như ngành điện tử, cơ khí). Sự dịch chuyên trong nội bộ các ngành cũng sẽ làm năng suất lao động của toàn bộ nên kinh tế tăng lên. Mặt khác, nếu lao động lại dịch chuyển theo chiều hướng ngược lại, tức là ngành có năng suất lao động cao sang ngành có năng suất lao động thấp thì việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ làm giảm năng suất của toàn nền kinh tế (Nguyễn Thị Lan Hương, 2007). Lượng hóa tác động của chuyền dịch cơ cấu ngành kinh tế đến tăng năng suất lao động 3.
Phương pháp phân tích tỉ trọng chuyển dịch cơ cấu ngành Phương pháp phân tích tỉ trọng chuyển dịch xem xét quá trình tăng năng suất lao động thông qua sự vận động của cơ cầu ngành kinh tế và mức độ chuyền dịch cơ cấu lao động theo ngành. Phương pháp phân tích này được xây dựng bởi nhà kinh tế học Fabricant, S. (1942), ông sử dụng dé đo lường số lượng lao động trên một đơn vị sản phẩm sản xuất ra. Sau này, các nhà kinh tế học như Syrquin, M.
(2000) da van dung phuong pháp phân tích của Fabricant, nhưng lại nghiên cứu theo hướng nghịch đảo: đo lường số lượng sản phẩm sản xuất ra trên một don vi lao dong. Gọi LP là tổng năng suất lao động xã hội; ¡ tương ứng với các ngành sản xuất (i= 1,.n, voi n là số lượng các ngành); Š¡ là tỉ trọng lao động làm việc trong ngànhï trong tông số lao động làm việc; 0 và t là thời điểm bắt đầu và kết thúc của giai đoạn nghiên cứu. Tổng năng suất lao động tại thời điểm t ở công thức (1) có thể được triển khai thành: _ GDPt GDP}.L GDP; — Sử dụng phương trình oy để tính toán sự khác biệt trong các mức độ năng suất lao động tổng hợp tại thời điểm 0 và t (Timmer, M., 2000): Tap chi Phát triển kinh tế 273 (07/2013) 17-25 20 | Nguyễn Quốc Tế & Nguyễn Thị Đông LPt —LP° =— Y%, LP? 0 (St t — SP)0 + DELP} t — LPP). 5; 0 0 (3) tính tốc độ tăng trưởng Chia 2 về của phương trình (3) cho LP°, hình thành nên công thức năng suất lao động xã hội: LPt-LP° _ YL (Si-S?) LPP , GLP, = ~T50 LP? t 0 TL t 0, cO n t 0 fea (LP? - LPP )(Si~Si) i=1(L—P; LP; )Sj (4) + LP9 Lpo dựa trên ba bộ phận: về đầu Phuong trinh (4) danh gia tốc độ tăng năng suất lao động xã hội biêu hiện “hiệu ứng tiên bên phải phương trình biêu hiện “hiệu ứng chuyển dịch tĩnh”, về thứ hai (Fimmer, M.
chuyển dịch động” và về thứ ba là “năng suất lao động nội sinh” 2000). động xã hội thông qua chuyển Hiệu ứng chuyên dịch tĩnh đo lường tốc độ tăng năng suất lao cao hơn, sử dụng trọng số là dich co cau lao động hướng tới những ngành có năng suất lao động kì nghiên cứu. Theo Chenery & giá trị năng suất lao động của ngành ở năm đầu tiên trong thời giữa vốn trên lao động thấp hơn cộng sự (1986), các ngành công nghiệp nhẹ có mồi quan hệ tỉ lệ nhiều vốn thường có năng suất so với các ngành công nghiệp nặng, và vi những ngành tập trung nhẹ sang công nghiệp nặng sẽ có lao động cao hơn nên sự chuyển địch lao động từ công nghiệp hiệu ứng chuyển dịch tĩnh có vai trò rất xu hướng làm tăng năng suất lao động xã hội. Mặt khác, nông nghiệp với đặc trưng mật quan trọng đối với các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước năm nên hiện tượng dư thừa lao độ dân số cao, công việc lại chỉ tập trung theo mùa vụ trong vực nông nghiệp có năng suất động diễn ra phổ biến.
nếu lao động chuyên dịch từ khu động cao hơn sẽ được coi là “phần lao động thấp sang khu vực công nghiệp có năng suất lao Szirmai, A. Điều này thưởng cơ cấu” của một quốc gia đang phát triển (Timmer, M.& cơ sở kì vọng đóng góp của hiệu có nghĩa giả thiết “phần thưởng cơ cấu” được xây dựng trên của nền kinh tế là dương. ứng chuyển dịch tĩnh vào tốc độ tăng năng suất lao động xã hội v.,+PP(SỈ=5P) ` g (5) LP; 0 năng suất lao động cao, hiệu ứng Khác với hiệu ứng chuyển dịch tĩnh chỉ hướng tới ngành có xã hội dựa trên sự thay đổi cả về năng chuyên dịch động đo lường tốc độ tăng năng suất lao động Nếu lao động chuyên dịch sang suất lao động lẫn tốc độ tăng năng suất lao động của ngành. suất lao động cao thì sẽ làm tăng ngành vừa có năng suất lao động cao, vừa có tốc độ tăng năng cực sẽ được khuếch đại hơn.
Ngược năng suất lao động xã hội. hiệu ứng tương tác mang tính tích với tốc độ tăng năng suất cao lại, nếu lao động chuyên dịch từ các ngành phát triển năng động suất thấp thì có thể là nguyên nhân sang các ngành truyền thống đặc trưng với tốc độ tăng năng (1967) gọi đây là “gánh nặng cơ cấu” dẫn đến tình trạng tăng trưởng lùi về kinh tế. Do vậy, khi xuất hiện gánh nặng trong quá trình phân phối lại lực lượng lao động theo ngành.