CHƯƠNG 1 Đề tài nghiên cứu các yêu tố tác động đến rủi ro của các ngân hàng đã được không ít nhà nghiên cứu kinh tế học Việt Nam thực hiện qua các năm. Tuy nhiên, việc tập trung nghiên cứu tác động của nguồn VCSH ngân hàng đến rủi ro của các NHTMVN cũng còn khá hạn chế. Dưới sức ép tăng VCSH ngân hàng để đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu theo qui định hiện nay đã thúc đẩy tác giả tiến hành nghiên cứu này nhằm tìm ra câu trả lời cho câu hỏi liệu VCSH tăng lên có làm làm giảm rủi ro của các NHTM hay không. Từ đó, các nhà quản trị ngân hàng cũng như nhà quản lý và thiết lập chính sách ở NHNN và Chính phủ có thể tham khảo để đưa ra những phán đoán và có hành động thích hợp để giảm thiểu rủi ro tại các ngân hàng nói riêng và hệ thống ngân hàng Việt Nam nói chung thông qua hoạt động quản trị VCSH ngân hàng.
Nghiên cứu này cũng mang ý nghĩa đóng góp làm phong phú hơn kho tàng nghiên cứu học thuật liên quan đến chủ đề này và làm cơ sở tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu sâu hơn về mối quan hệ giữa rủi ro và VCSH ngân hàng tại Việt Nam. 123doc 8 CHƯƠNG 2 – TỔNG QUAN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA VCSH ĐẾN RỦI RO TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Lý thuyết nền của đề tài nghiên cứu 2.1 VCSH của NHTM Để tránh cạnh tranh không lành mạnh giữa các ngân hàng và đảm bảo sự giám sát hiệu quả các ngân hàng trên toàn cầu thông qua việc xây dựng và phát triển các tiêu chuẩn quốc tế, Ủy ban giám sát ngân hàng Basel (Basel Committee on Banking Supervision – BCBS) được thành lập bởi thống đốc các NHTW thuộc nhóm nước G10 vào năm 1975, bao gồm đại diện cấp cao từ các cơ quan chức năng về giám sát ngân hàng và từ NHTW của nhóm G-10 (Hiện nay gồm 13 quốc gia: Bỉ, Canada, Pháp, Đức, Ý, Nhật Bản, Luxembourg, Hà Lan, Mỹ, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sỹ và Anh). Các cuộc họp của ủy ban thường diễn ra tại Ngân hàng thanh toán quốc tế Basel (Bank for international settlements), thuộc Thụy Sỹ, nơi ban thư ký thường trực đặt trụ sở. Uỷ ban không có thẩm quyền cưỡng chế thực hiện những đề xuất của mình nên thường mất một khoảng thời gian kể từ khi các đề xuất, khuyến nghị ra đời đến khi được đưa vào cấp độ luật và điều lệ quốc gia.
Năm 1987, BCBS đã soạn thảo những đề xuất cho tiêu chuẩn mới về vốn, áp dụng cho các ngân hàng, tổ chức tài chính nhằm khuyến khích các ngân hàng lớn củng cố trạng thái vốn, hạn chế sự không bình đẳng trong quy định giữa các quốc gia khác nhau và xem xét những rủi ro đối với hoạt động ngoài bảng cân đối kế toán mà các ngân hàng thực hiện trong thời gian gần đó. Năm 1988, đề xuất này chính thức được thông qua dưới cái tên Hiệp ước Basel 1988 được biết đến như là Basel I, nhằm phân biệt với bản sửa đổi bổ sung Basel II năm 1999. Hiệp ước này được cưỡng chế thi hành theo luật quốc gia của các nước G-10 từ năm 1992 và đến nay, hơn 100 nước trên thế giới cũng đã áp dụng những nguyên tắc cơ bản của các đề xuất này. 123doc 9 Cũng với những thành phần tương tự như trên, nhưng Hiệp ước Basel I phân loại VCSH của NHTM thành hai lớp phù hợp cho việc đánh giá được tính ổn định và an toàn của nguòn vốn này tại NHTM.
Theo đó, VCSH của NHTM gồm: - Vốn cơ sở hay Vốn cơ bản, Vốn loại 1 (Core Capital, hay Tier 1 Capital): là chỉ tiêu cơ bản để đo lường sức mạnh tài chính của ngân hàng nhìn nhận dưới góc độ của các nhà quản lý. Nó bao gồm những loại vốn tài chính được xem là đáng tin cậy nhất và có tính lỏng cao nhất, thực sự tồn tại, và tương đối ổn định trong suốt quá trình hoạt động của ngân hàng, đảm bảo cho ngân hàng vận hành bình thường. Trọng tâm của phần vốn này bao gồm vốn điều lệ, các quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ và lợi nhuận giữ lại. - Vốn bổ sung hay Vốn loại 2 (Supplemental Capital, hay Tier 2 Capital): là bộ phận VCSH tăng thêm trong quá trình hoạt động nhằm mở rộng hay đảm bảo an toàn cho các hoạt động của ngân hàng trong quá trình kinh doanh, nhưng chúng ít ổn định hơn Vốn cơ sở.
Lớp vốn này gồm các khoản có thể được sử dụng như Vốn cơ sở trong thời gian tương đối dài và có thể bị loại khỏi VCSH khi đáo hạn hay bị đem ra sử dụng hết (trường hợp các quỹ dự phòng). Theo Basel I, Vốn bổ sung được phân loại thành: Các quỹ đánh giá lại tài sản (Revaluation Reserves) Các quỹ dự phòng (General Provisions) Các công cụ nợ lưỡng tính (Hybrid instruments) Các khoản nợ dài hạn không được hoàn trả trong một khoảng thời gian nhất định (thường là dài) và có thứ tự ưu tiên thanh toán sau những người gửi tiền (Subordinated term debt) Các khoản dự trữ không được tiết lộ (Undisclosed Reserves): những khoản này tuy không phổ biến, nhưng vẫn được chấp nhận bởi một số nhà quản lý khi một ngân hàng kinh doanh có lãi nhưng điều này không được thể hiện rõ trong các khoản lợi nhuận giữ lại hoặc các quỹ dự trữ thông thường. 123doc 10 Những khoản này phụ thuộc vào quy định của mỗi quốc gia. Khi tính toán, phải loại từ vốn cơ sở và bổ sung một số khoản như: lợi thế thương mại (chênh lệch giá mua lớn hơn so với giá trị ghi sổ của tài sản khi ngân hàng mua tài sản tài chính), vốn góp vào các công ty con, tổ chức tín dụng khác, một phần của quỹ đánh giá lại tài sản, … 2.2 Vai trò của VCSH và việc gia tăng VCSH VCSH của NHTM có thể được hiểu là nguồn tiền thuộc sở hữu hợp pháp của chủ ngân hàng bao gồm các khoản vốn ngân hàng được cấp, hoặc được đóng góp bởi những người chủ ngân hàng khi mới thành lập và những khoản được trích lập, giữ lại từ lợi nhuận hoạt động.
Về cơ bản, cũng như các loại hình doanh nghiệp khác, VCSH không phải hoàn trả, chủ ngân hàng có thể tăng, giảm (với sự đồng ý của cơ quan chức năng), thay đổi cơ cấu của VCSH, hoặc quyết định các chính sách có ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn vốn này. Song, là một định chế tài chính đặc biệt, VCSH của NHTM mang một số điểm riêng có như về thành phần của vốn, vai trò của vốn,. Với chức năng là trung gian tài chính, NHTM chỉ lấy VCSH làm khởi điểm rồi sẽ không ngừng huy động tiền của nền kinh tế để tài trợ cho các hoạt động của mình. VCSH có những chức năng và vai trò vô cùng quan trọng như sau: 2.1 Tấm đệm chống đỡ rủi ro cho hoạt động kinh doanh của NHTM Có rất nhiều rủi ro tác động, ảnh hưởng xấu đến ngân hàng nhưng ngân hàng có nhiều biện pháp để phòng chống rủi ro, bảo vệ tình trạng tài chính của mình như: nâng cao chất lượng quản lý, đa dạng hóa danh mục đầu tư và địa bàn hoạt động, bảo hiểm tiền gửi,.
Trường hợp ngân hàng phá sản hoặc ngừng hoạt động, các khoản tiền gửi đã huy động sẽ được ưu tiên hoàn trả trước, sau đó đến nghĩa vụ với chính phủ và người lao động, các khoản vay, cuối cùng mới đến chủ giấy nợ có khả năng chuyển đổi, cổ phần ưu đãi, cổ phần thường. Vì vậy, trong môi trường kinh tế tài chính nói chung vốn tiềm ẩn nhiều rủi ro như hiện nay, các ngân hàng càng phải nắm giữ nhiều VCSH hơn, đặc biệt là những ngân hàng chọn kinh doanh trên một số mảng có mức độ rủi ro cao nhằm tăng sức cạnh tranh so với đối thủ.2 VCSH bảo vệ người gửi tiền/ký thác và các quỹ bảo hiểm tiền gửi Nhờ khả năng hấp thụ những khoản thua lỗ lớn phát sinh không dự tính trước được, VCSH góp phần bảo vệ những người ký thác tài sản tại ngân hàng. Khi nền kinh tế suy thoái, một số khách hàng vay nợ gặp khó khăn và không thể hoàn trả nợ vay đúng hạn. Khi đó, luồng tiền hoàn trả tín dụng hiện hành và dự tính trong tương lai đều giảm.
Sự giảm giá trị của Tài sản có sẽ được cân đối bằng sự giảm giá trị của VCSH, do đó những người gửi tiền được bảo vệ một cách toàn vẹn vì giá trị của khỏan tiền gửi vẫn không thay đổi. Đó là vì những người gửi tiền bao giờ cũng được ưu tiên thanh toán trước cổ đông. Bên cạnh đó, vì hầu hết các NHTM đều tham gia Bảo hiểm tiền gửi, nên khi có thể tự chi trả cho những chủ nợ của mình tức là các ngân hàng đã bảo vệ cho nhà bảo hiểm thông qua việc tránh cho họ phải chi những khoản bồi thường.3 Tạo điều kiện cho sự thành lập và hoạt động ban đầu của NHTM Điều kiện bắt buộc để ngân hàng có giấy phép tổ chức và hoạt động trước khi tính đến việc huy động những khoản tiền gửi đầu tiên là phải đáp ứng yêu cầu về vốn pháp định. Mỗi ngân hàng mới đều cần vốn ban đầu để xây dựng, mua sắm hoặc thuê mướn cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, thuê nhân viên…, phần còn lại tham gia vào quá trình kinh doanh của ngân hàng như cho vay hoặc mua chứng khoán.4 Tạo niềm tin cho người gửi tiền và thu hút tiền gửi Trong trường hợp những điều kiện khác tương tự nhau, những ngân hàng có vốn lớn thường hấp dẫn người gửi tiền hơn ngân hàng có vốn nhỏ hơn, đặc biệt trong điều kiện khách hàng dễ dàng tiếp cận các thông tin để phân tích và đưa ra các quyết định riêng của mình.
Tiềm lực tài chính của ngân hàng mạnh sẽ tạo được sự tin tưởng ở công chúng, và quy mô VCSH của các NHTM càng cần được chú ý hơn.5 Cung cấp nguồn lực tài chính cho sự tăng trưởng và phát triển Để cạnh tranh tốt, các NHTM luôn phải không ngừng đưa ra những dịch vụ mới, những chương trình mới, đổi mới công nghệ ngân hàng, nâng cao năng suất lao động; 123doc 12 và khi phát triển, ngân hàng cũng cần bổ sung vốn để thúc đẩy tăng trưởng, mở thêm chi nhánh hoặc quầy giao dịch, văn phòng đại diện, …VCSH được bổ sung và tăng về quy mô sẽ tài trợ cho các hoạt động này để theo kịp với sự phát triển của thị trường và tăng khả năng phục vụ khách hàng.