Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu trên thế giới 1.1 Các nghiên cứu liên quan đến việc thành lập KBTTN và VQG Sau nhiều thập kỷ, rừng trên thế giới bị xâm hại dẫn đến diện tích bị thu hep, chất lượng bị giảm sút. Cộng đồng thế giới đã có nhiều biện pháp bảo tồn và công tác bảo tồn rừng đã trở thành vấn đề bức xúc. Những qui định về pháp luật ngày càng hoàn thiện, công tác đầu tư phương tiện, thiết bị, con người được quan tâm.
Mặc dù cũng rất cố gắng nhưng rừng vẫn bị tàn phá ngày càng tăng. Diện tích rừng trên thế giới vào cuối thập kỷ 20 vào khoảng 4,06 tỷ ha, chiếm khoảng 32% diện tích tự nhiên toàn thế giới. Phân bố theo vùng nhiệt đới và ôn đới như sau [16]: Bảng 1.1: Phân bố rừng theo vùng nhiệt đới và ôn đới Diện tích Diện tích rừng (triệu ha) tự nhiên (triệu ha) Diện tích % Toàn cầu 12.060 100,00 Các nước nhiệt đới 5.730 42,60 Các nước ôn đới 6.330 57,40 Sự suy giảm độ che phủ trong vòng 10 năm (1980 - 1990), nếu lấy mốc độ che phủ của năm 1980 là 100% thì độ che phủ đã thay đổi như sau: các nước đang phát triển là 95,3%; các nước phát triển là 101% và chung toàn cầu là 98,2% [16]. 5 % 106 104 102 Các nước phát triển:101 100 Toàn cầu: 98,2 96 Các nước đang PT:95,3 94 92 90 88 86 1980 1990 Một chiến lược bảo tồn mới được hình thành và dần dần khẳng định tính ưu việt, đó là liên kết quản lý KBTTN và VQG với các hoạt động sinh kế của người dân địa phương, cần thiết có sự tham gia bình đẳng của các cộng đồng trên cơ sở tôn trọng nền văn hoá trong quá trình xây dựng các quyết định [21].
Tuy vậy, các KBT đều được thiết lập chủ yếu vì mục đích quốc gia, mà ít nghĩ đến các nhu cầu và mong muốn của người dân địa phương. Dựa trên mô hình của Hoa Kỳ, phương thức quản lý của nhiều VQG và KBT chủ yếu bao gồm việc ngăn cấm người dân địa phương xâm nhập vào KBT và khai thác TNR. Phương thức này gọi là biện pháp “rào và phạt”. Tại các nước Đông Nam Á, phương thức này tỏ ra không thích hợp, vì để duy trì sự đa dạng sinh học thì người dân địa phương bị mất quyền tiếp cận với nguồn TNR, trong khi ấy sự phụ thuộc của họ vào rừng là rất lớn [18].
Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển đã trở thành vấn đề nổi lên trong các cuộc hội thảo, diễn đàn khoa học trong những năm gần đây. Vào tháng 6 năm 1992, tại Hội nghị Liên hiệp quốc tế về Môi trường và Phát triển bền vững ở Rio De Janeiro (Brasin), vấn đề này đã chính thức được công nhận, các chính phủ đã đưa ra một kế hoạch hành động cải thiện sinh kế của người dân trên cơ sở duy trì các tiến trình chức năng và sức sản xuất của đất đai và các loại tài nguyên thiên nhiên khác [11]. Các nghiên cứu liên quan đến sự tham gia của người dân trong các KBTTN và VQG Trên thế giới, các kết quả nghiên cứu và kinh nghiệm thực tiễn của các KBT và VQG khẳng định rằng, để quản lý thành công cần dựa trên mô hình quản lý gắn bảo tồn đa dạng sinh học với bảo tồn văn hóa của người dân địa phương. Ở Kakadu (Australia), những người thổ dân chẳng những được chung sống với VQG một cách hợp pháp mà còn được thừa nhận là chủ rừng của VQG và được tham gia quản lý thông qua các đại diện của họ trong BQL.
Tại VQG Wasur (Indonesia) vẫn tồn tại 13 làng bản với cuộc sống gắn với săn bắn cổ truyền [9], [16]. Ở Châu Á, sự tham gia của người dân địa phương vào công tác bảo tồn đa dạng sinh học là một biện pháp cần thiết và thường có hiệu quả. Lý do để khuyến khích sự tham gia này là nỗ lực của các cơ quan chính phủ nhằm đưa dân chúng ra khỏi các KBT đã không mang lại kết quả như mong muốn trên cả phương diện quản lý TNR và kinh tế xã hội. Việc đưa người dân vốn quen sống trên địa bàn của họ đến một nơi mới chẳng khác nào “bắt cá khỏi nước” và khi đó lực lượng khác có thể xâm lấn và khai thác TNR mà không có người bảo vệ.
Người dân địa phương có nhiều kiến thức cổ truyền về việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên và các thể chế cộng đồng đã tỏ ra có hiệu quả trong việc quản lý các nguồn tài nguyên này [18]. Ở Thái Lan, vào khoảng những năm 1945, độ che phủ của rừng đạt tới 60% nhưng đến năm 1995 giảm xuống còn 26%.000 km2 rừng bị tàn phá. Năm 1989, Cục Lâm nghiệp của Hoàng Gia Thái Lan thành lập các KBT để bào vệ diện tích rừng còn lại. Điều này đã dẫn tới xung đột giữa các cộng đồng địa phương với các BQL.
Một thử nghiệm của dự án “Quản lý rừng bền vững thông qua sự cộng tác” thực hiện tại khu Kheio Wildlife Sanctuary, tỉnh Chaiyaphum ở Đông Bắc Thái Lan đã được tiến hành. Kết quả chỉ ra rằng, điều căn bản để quản lý bền vững tài nguyên là phải thu hút sự tham gia của các bên liên quan, đặc biệt là phải bao gồm cả việc phát triển cộng đồng địa phương bằng các hoạt động làm tăng thu nhập của họ (dẫn theo Ngô Ngọc Tuyên [21]). 7 Theo đó, các nguyên tắc được lập ra trong công tác quản lý tài nguyên thiên nhiên và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội quốc gia năm 1992-1996 là “Khuyến khích người dân cộng tác với Chính phủ trong bảo tồn tài nguyên thiên nhiên thông qua việc đề cao vai trò của các tổ chức nhân dân, tổ chức phi chính phủ, từ trung ương đến địa phương; trong việc quyết định các dự án quản lý tài nguyên thiên nhiên cũng như trong việc theo dõi, giám sát và đánh giá thành công của dự án này”. Nhận rõ sự cần thiết phải xem xét điều kiện kinh tế xã hội xung quanh KBT, các nhà quy hoạch quản lý đã bắt đầu đề xuất và thiết lập các vùng đệm để ngăn chặn sự xâm hại từ bên ngoài vào các KBT [18].
Tại Nepan, Apple G.A (1987) khi nghiên cứu kinh nghiệm tác nghiệp trong việc quản lý phát triển rừng tại vùng đồi Nepan đã hình thành mối quan hệ giữa rừng và các hệ canh tác hỗn hợp ở trung du miền núi. Tác giả cho rằng, các hệ canh tác phụ thuộc nhiều vào rừng đang bị suy thoái nhanh. Sự bền vững lâu dài của các hệ canh tác phụ thuộc vào việc gia tăng về diện tích dưới bất cứ các dạng che phủ thực vật nào [26]. Ở Philippines, chiến lược quốc gia về bảo tồn đa dạng sinh học nêu rõ rằng: “Điều chủ chốt dẫn đến thắng lợi cho bảo tồn đa dạng sinh học là phải bảo đảm rằng, các cộng đồng địa phương, những người bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi mọi quyết định về chính sách liên quan đến môi trường, sẽ tham gia vào quá trình lập kế hoạch và quản lý đối với bảo tồn đa dạng sinh học” [18].
Theo Peluso (1986), tại Indonesia đã công bố một bản tóm tắt các kết quả của việc nghiên cứu về lâm nghiệp xã hội (LNXH) tại 12 điểm dự án ở Java và Sulawesi. Các ảnh hưởng qua lại giữa đất và rừng của nhà nước như: rừng sản xuất, rừng trồng, rừng tự nhiên đều đã được nghiên cứu. Sản phẩm là những mặt hàng sinh lời được và khó quản lý đối với cơ quan lâm nghiệp nhưng có giá trị to lớn đối với nhân dân địa phương. Kế hoạch hành động đa dạng sinh học ở Indonesia cũng ghi nhận rằng: “Việc tăng cường sự tham gia của công chúng, đặc biệt là cộng đồng sinh sống bên trong và phụ thuộc vào các vùng có tính đa dạng sinh học cao, là mục tiêu chính của kế hoạch hành động và là điều kiện tiến quyết đối với việc thục hiện kế hoạch [18], [26].
8 Bink Man (1988) trong tài liệu giới thiệu nghiên cứu định hình chi tiết về làng Ban Pong, tỉnh Risaket (Thái Lan) đã chỉ ra rằng, các tầng lớp nghèo phải phụ thuộc vào rừng để chăn thả gia súc và thu hái tài nguyên lâm sản như củi đun và hoa quả trong rừng. Tuy nhiên, đây là một minh họa rất cần thiết cho việc người dân địa phương tham gia vào việc lập kế hoạch và thiết kế các dự án phát triển [26].P (1980) trong tác phẩm: “Thay đổi và nông lâm kết hợp bản địa” tại Đông Kalimamtan, qua mô tả việc đi thu hái lâm sản phụ, tác giả đã nhận định rằng, những sản vật ấy được coi như là những mặt hàng không phải trả tiền, ai cũng có thể thu lượm được. Thế nhưng, những quyền đó không được quy định cụ thể, nó đã trở thành một thông lệ, trong đó có cả việc dùng gỗ làm nhà, có lúc dùng để biện hộ cho việc thu hoạch gỗ và bán [26]. Năm 1986, trong tác phẩm “LNXH và hành động của cộng đồng”, các tác giả Dorji, D.
Thinley và Wangchuks cho rằng: Rừng chủ yếu là nguồn cung cấp gỗ xây dựng và làm hàng rào, cung cấp củi, nơi chăn thả và chuồng trại cho gia súc. Chúng cũng cung cấp một phần lớn những yêu cầu về thức ăn gia súc, lợi tức, công ăn việc làm và đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ đất và nước trên vùng đất dốc [26]. Theo Gadgil và V. Vatok (1976) trong tác phẩm: ”Những lùm cây thiêng miền Tây dãy Ghats ở Ấn độ” cho rằng: Người dân địa phương đã bảo vệ được các đám rừng từ dưới 0,5 ha đến 10 ha dưới dạng lùm cây thiêng để thờ các vị thần của lùm cây.
Việc thờ cúng tại những lùm cây thiêng đó được hình thành từ các xã hội chuyên về săn bắn và hái lượm. Mọi hoạt động lấy ra bất cứ sản phẩm nào đều bị cấm kỵ. Với nạn phá rừng ngày càng tăng, những lùm cây đó đã trở thành những di sản còn lại của rừng tự nhiên và do đó đã trở nên quan trọng trong việc thu lượm một số sản phẩm như: cây thuốc, lá rụng, gỗ khô, … Việc khai thác gỗ đã bị cấm, nhưng đôi khi vẫn xảy ra tình trạng khai thác gỗ trộm [26]. Tổng quan vấn đề nghiên cứu ở Việt Nam 1.1 Hệ thống chính sách và các vấn đề liên quan đến rừng đặc dụng Việt Nam trải qua nhiều năm chiến tranh, kinh tế đất nước ở những năm đầu sau chiến tranh khó khăn.