Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan vấn đề nghiên liên quan cứu trên thế giới 1.1 Quan điểm của nghiên cứu Nghiên cứu được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của lý thuyết hệ thống; quan điểm sinh thái nhân văn; quan điểm bảo tồn và phát triển; phương pháp tiếp cận có sự tham gia. (i) Vận dụng lý thuyết hệ thống Hệ thống được hiểu là cấu trúc hoàn chỉnh của tự nhiên, nó bao gồm nhiều bộ phận chức năng liên kết với nhau một cách có tổ chức và trật tự tồn tại và vận động theo những qui luật thống nhất. Mỗi hệ thống luôn bao gồm những hệ thống thành phần (nhỏ hơn) hay còn gọi là hệ thống phụ.
Mọi sự vật hiện tượng đều nằm trong hệ thống và mỗi hệ thống lại nằm trong hệ thống lớn hơn [17]. Sự tác động của người dân đến TNR là hoạt động trong hệ thống kinh tế xã hội và tác động tới hệ thống tự nhiên. Nó là hoạt động trong hệ thống kinh tế, bởi vì mức độ tác động của người dân gắn liền với các hoạt động kinh tế của con người như sử dụng đất rừng canh tác, khai thác lâm sản, chăn thả gia súc…Sự tác động này cũng phụ thuộc vào sinh kế, mức sống nhu cầu thị trường, khả năng đầu tư, lợi nhuận trước mắt và hiệu quả kinh tế thường quyết định tới hình thức sử dụng TNR của người dân địa phương. Ngược lại, mức độ giàu có của TNR cũng tác động mạnh mẽ tới nguồn thu của người dân địa phương.
Chính quan hệ chặt chẽ giữa tác động của người dân địa phương đến TNR với các yếu tố kinh tế nên có thể làm giảm thiếu tác động bất lợi tới tài nguyên rừng bằng cách tác động vào các yếu tố kinh tế. Đây là lý do đề tài nghiên cứu các nguyên nhân kinh tế dẫn tới những tác động bất lợi của người dân địa phương đến tài nguyên rừng và nghiên cứu đề xuất giải pháp kinh tế để giảm thiếu tác động bất lợi này. 5 Sự tác động của người dân địa phương đến TNR là hoạt động xã hội vì các hoạt động này là của con người. Sự tác động bị chi phối bởi các yếu tố xã hội như nhận thức của người dân về tầm quan trọng của TNR, ý thức về luật pháp, trách nhiệm của cộng đồng, tập quán sử dụng TNR.
Sự tác động của người dân địa phương còn phụ thuộc vào những vấn đề như thể chế và chính sách, chính sách đối với người dân trong KBT, hệ thống quản lý, việc thực thi luật Bảo vệ và Phát triển rừng. Các tổ chức cộng đồng và những qui định của cộng đồng cũng có ảnh hưởng tới những tác động của người dân địa phương vào TNR. Sự hiện diện của chúng sẽ hỗ trợ nhà nước trong việc tuyên truyền chính sách, gắn kết người dân thành cộng đồng thống nhất trong việc thực thi quản lý bảo vệ TNR. Vì vậy, đề tài nghiên cứu các nguyên nhân xã hội chi phối sự tác động của người dân địa phương đến TNR và nghiên cứu các giải pháp xã hội nhằm làm giảm thiểu những tác động bất lợi đối với TNR này [21].
TNR là một hệ thống tự nhiên, trong đó các thành phần có mối quan hệ chặt chẽ. Bất cứ tác động nào từ bên ngoài tới TNR dẫn đến sự thay đổi các thành phần và chức năng của hệ thống. TNR vốn tồn tại khách quan và vận động theo qui luật tự nhiên. Vì vậy để bảo tồn TNR, những tác động của con người phải phù hợp với qui luật tự nhiên và giảm thiếu những tác động bất lợi tới nó [21].
(ii) Quan điểm sinh thái nhân văn Thực tế cho thấy, các hoạt động kinh tế xã hội trong cộng đồng hay trong mỗi hộ gia đình đều rất đa dạng và phong phú. Nó phản ánh đặc điểm sinh thái và mối quan hệ kinh tế xã hội. Điều này chỉ ra rằng, các hoạt động trong cộng đồng chịu sự chi phối của nhiều yếu tố và có một yếu tố nào đó giữ vai trò quan trọng trong cộng đồng này vào thời điểm này nhưng lại không phải quan trọng trong thời điểm khác hoặc trong cộng đồng khác. Để nghiên cứu sự tác động bất lợi của người dân đến TNR, chúng tôi dựa theo tháp sinh thái – nhân văn của Park đề xuất năm 1936 (dẫn theo Võ Văn Thoan và Nguyễn Bá Ngãi (2003) [17]; Ngô Ngọc Tuyên (2007) [21]).
6 ¶nh hưởng Các yếu tố Phát triển kinh tế - xã hội địa phương và -Các yếu tố văn bảo tồn hoá TNR -Các yếu tố thể Tác động Bậc đạo đức chế, chính sách bất lợi của -Các yếu tố kinh Bậc thể chế người dân tế địa phương Bậc kinh tế -Các yếu tố sinh tới TNR thái- công nghệ Bậc sinh thái Hình 1.1: Tháp sinh thái – nhân văn (mô hình của Park, 1936) Theo Võ Văn Thoan và Nguyễn Bá Ngãi (2003), mô hình sinh thái - nhân văn được Park thiết kế theo hình tháp dựa trên các hoạt động xã hội của cộng đồng chịu sự chi phối của 4 bậc của các nhóm nhân tố theo trình tự: Bậc sinh thái, bậc kinh tế, bậc thể chế chính sách và bậc đạo đức. Mô hình này đề cập đến quan hệ giữa sắp xếp thứ bậc các nhóm nhân tố với các hoạt động của cá nhân và sự bền vững [17]. Dựa trên hình tháp này có thể giải thích: Quan hệ giữa tác động bất lợi của người dân đến TNR và phát triển kinh tế - xã hội địa phương là quan hệ có xu hướng nghịch; tức là khi kinh tế - xã hội địa phương càng phát triển, điều kiện sống về vật chất, tinh thần được đảm bảo và công tác bảo tồn TNR được thực hiện tốt thì tác động bất lợi tới TNR sẽ giảm. Bậc sinh thái là sự tác động bất lợi của người dân địa phương vào TNR đều có cơ sở sinh thái và chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố kinh tế - xã hội.
Cơ sở sinh thái được giải thích bằng các yếu tố vật lý sinh học và chia làm 2 loại: (i) những yếu 7 tố không thể kiểm soát được như khí hậu, thuỷ văn, địa hình…và (ii) những yếu tố có thể kiểm soát được cần nghiên cứu bằng các giải pháp khoa học công nghệ. Bậc kinh tế như sinh kế, mức sống của người dân địa phương, nhu cầu thị trường, những nhân tố này có ý nghĩa đối với sự tác động của người dân địa phương tới TNR. Bậc thể chế được giải thích là các yếu tố về thể chế, chính sách, tổ chức cộng đồng … ảnh hưởng gián tiếp tới những tác động của người dân địa phương đến tài nguyên rừng. Bậc đạo đức được hiểu là tập quán, sự nhận thức hay ở mức độ cao hơn nữa là văn hóa của các cộng đồng dân cư.
Mọi tác động của các yếu tố khác có thể làm thay đổi thái độ và nhận thức của cộng đồng. Theo logic của tháp sinh thái nhân văn thì bất kỳ giải pháp nào nhằm giảm thiểu những tác động bất lợi tới TNR, bảo tồn và phát triển TNR đều phải dựa trên cơ sở sinh thái và bảo đảm được các yếu tố về kinh tế xã hội của người dân địa phương (Ngô Ngọc Tuyên, 2007 [21]). (iii) Quan điểm bảo tồn và phát triển Theo Gilmour và Nguyễn Văn Sản (1999), quan điểm bảo tồn và phát triển là để liên kết việc bảo tồn tài nguyên và những nhu cầu phát triển của địa phương, bao gồm ba thành phần chính (cách tiếp cận) sau [3]: - Thứ nhất là, nếu nhu cầu phát triển cộng đồng tại địa phương đó có thể đáp ứng bởi các nguồn thay thế khác thì ảnh hưởng của nó lên tài nguyên sẽ được giảm bớt và tài nguyên được bảo tồn: Cách tiếp cận các giải pháp thay thế sinh kế. - Thứ hai là, nếu cộng đồng rất khó khăn về mặt kinh tế, không thể nào quan tâm đến mặt bảo tồn được vì những nhu cầu thiết yếu của cộng đồng còn chưa được đáp ứng thì trước hết cần phải nỗ lực cải thiện nền kinh tế - xã hội của họ đủ tốt để họ có thể quan tâm hơn đến việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên: Cách tiếp cận phát triển kinh tế.
8 - Thứ ba là, cộng đồng địa phương đó cũng đồng ý với việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên nếu như họ có thể tham gia một cách tích cực vào việc qui hoạch và quản lý sử dụng tài nguyên và được chia sẻ lợi nhuận từ tài nguyên đó. Theo cách này, tài nguyên có thể được bảo tồn trong khi một số nhu cầu cơ bản của người dân được đáp ứng thông qua việc sử dụng và khai thác tài nguyên một cách hợp lý và bền vững: Cách tiếp cận tham gia qui hoạch. (iv) Phương pháp tiếp cận có sự tham gia Sự tham gia định nghĩa như một quá trình, thông qua đó các chủ thể cùng tác động và chia sẻ những sáng kiến phát triển và cùng quyết định. Điều quan trọng là người dân địa phương có khả năng trao đổi các triển vọng của họ về TNR với các nhà nghiên cứu, các cơ quan quản lý và ngược lai, các cơ quan này có thể hiểu và đáp ứng các nguyện vọng được nêu ra.
Năm 1996, Hosley đưa ra 7 mức độ của sự tham gia từ thấp đến cao, đó là tham gia có tính chất vận động, tham gia bị động, tham gia qua hình thức tư vấn, tham gia vì mục tiêu được hưởng các hổ trợ từ bên ngoài, tham gia theo chức năng, tham gia hổ trợ, tự huy động và tổ chức (dẫn theo Bùi Việt Hải, 2007 [6]). Trong nghiên cứu này, phương pháp tiếp cận cùng tham gia được áp dụng, trong đó người dân địa phương tham gia ở mức độ 3, tức là tham gia qua hình thức tư vấn, cung cấp thông tin. Các phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA) và phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA) sẽ được sử dụng để thu thập thông tin cho nghiên cứu. Các phương pháp này giúp thu thập và phân tích thông tin của chính người dân địa phương, nên thông tin có thể sử dụng được cho nhiều nhu cầu của địa phương như sự ủng hộ về quyền sử dụng tài nguyên, các giải pháp giải quyết xung đột [4], [6], [12].2 Các kết quả nghiên cứu ở rừng đặc dụng Trên thế giới, các kết quả nghiên cứu và kinh nghiệm thực tiễn của các VQG và KBTTN khẳng định rằng, để quản lý thành công cần dựa trên mô hình quản lý gắn bảo tồn đa dạng sinh học với bảo tồn văn hóa của người dân địa phương .