Luận văn: Tác động của người dân đến tài nguyên rừng KBT Bắc Hướng Hóa, Quảng Trị

Luận văn phân tích tác động của người dân địa phương đến tài nguyên rừng tại Khu bảo tồn Bắc Hướng Hóa, đề xuất giải pháp bảo tồn bền vững.

Trường đại học

Trường Đại học Lâm nghiệp

Chuyên ngành

Lâm học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sỹ

2011

98
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. Chương 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Ở nước ngoài

1.2. Ở trong nước

Tóm tắt

I. Toàn cảnh tác động của người dân đến rừng KBT Bắc Hướng Hóa

Khu bảo tồn thiên nhiên (KBT) Bắc Hướng Hóa là một trong những điểm nóng về bảo tồn đa dạng sinh học của Việt Nam. Tuy nhiên, khu vực này đang đối mặt với áp lực lớn từ các hoạt động của cộng đồng địa phương. Mối quan hệ giữa con người và rừng tại đây vô cùng phức tạp. Nó không chỉ là câu chuyện về sinh tồn mà còn là sự xung đột giữa nhu cầu trước mắt và mục tiêu bảo tồn dài hạn. Luận văn của Ngô Viết Huy (2011) chỉ ra rằng, sự phụ thuộc vào tài nguyên rừng của người dân, đặc biệt là dân tộc Vân Kiều, là nguyên nhân cốt lõi gây ra các tác động tiêu cực. Đời sống kinh tế khó khăn, dân trí thấp và tập quán canh tác lâu đời đã tạo nên một sức ép nặng nề lên hệ sinh thái. Việc thành lập khu bảo tồn đã giới hạn quyền tiếp cận tài nguyên của người dân. Điều này làm nảy sinh mâu thuẫn giữa ban quản lý và người dân địa phương. Họ cảm thấy bị thiệt thòi khi nguồn sống truyền thống bị hạn chế. Trong khi đó, các sinh kế người dân vùng đệm chưa đủ sức bù đắp. Do đó, việc tìm hiểu sâu sắc các hình thức tác động, cả tích cực và tiêu cực, là bước đi đầu tiên để xây dựng một chiến lược quản lý tài nguyên rừng bền vững, hài hòa lợi ích giữa các bên.

1.1. Giới thiệu Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa và tầm quan trọng

Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa được thành lập năm 2007, thuộc vùng Trung Trường Sơn, tỉnh Quảng Trị. Đây là nơi giao thoa của nhiều luồng động thực vật, tạo nên một hệ sinh thái rừng Quảng Trị vô cùng phong phú. Khu vực này có giá trị bảo tồn mang tầm vóc quốc gia và quốc tế. Rừng ở đây là môi trường sống của nhiều loài quý hiếm, nguy cấp như Voọc vá chân nâu, Thỏ vằn. KBT có vai trò quan trọng trong việc điều tiết nguồn nước, bảo vệ đất và duy trì sự cân bằng sinh thái cho cả vùng. Tuy nhiên, sự tồn tại của khu bảo tồn gắn liền với cuộc sống của hàng ngàn người dân, đặt ra bài toán khó về xung đột giữa người và thiên nhiên.

1.2. Đặc điểm cộng đồng địa phương và sự phụ thuộc vào rừng

Vùng đệm KBT Bắc Hướng Hóa là nơi sinh sống của hơn 2.000 hộ dân, trong đó dân tộc Vân Kiều chiếm 67%. Đời sống của họ gắn liền với rừng từ bao đời. Tập quán du canh du cư và sản xuất nông nghiệp tự cung tự cấp là chủ đạo. Theo nghiên cứu, tài nguyên rừng là nguồn sống chính, đáp ứng nhu cầu về lương thực, chất đốt, vật liệu xây dựng và thu nhập. Họ khai thác gỗ, thu hái lâm sản ngoài gỗ và săn bắt động vật hoang dã để phục vụ cuộc sống. Sự phụ thuộc này là tất yếu khi diện tích đất nông nghiệp ít, năng suất thấp và các cơ hội sinh kế người dân vùng đệm còn hạn chế. Chính sự phụ thuộc sâu sắc này là nguồn gốc của hầu hết các tác động lên tài nguyên rừng.

II. TOP các tác động tiêu cực của người dân đến rừng Bắc Hướng Hóa

Các tác động tiêu cực của người dân đến Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa là một thực tế không thể phủ nhận và là thách thức lớn nhất đối với công tác bảo tồn. Các hoạt động này xuất phát trực tiếp từ nhu cầu sinh tồn và các tập quán lâu đời. Mức độ tác động ngày càng gia tăng khi áp lực dân số và nhu cầu thị trường tăng cao. Những hành vi này không chỉ làm suy giảm diện tích và chất lượng rừng mà còn phá vỡ cấu trúc của hệ sinh thái, đe dọa trực tiếp đến sự tồn vong của nhiều loài động thực vật quý hiếm. Tài liệu nghiên cứu cho thấy, các hoạt động như phá rừng làm nương rẫykhai thác lâm sản trái phép diễn ra phổ biến. Hậu quả là tài nguyên rừng bị suy thoái, đất đai bị xói mòn, và khả năng phục hồi tự nhiên của rừng bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Đây là một vòng luẩn quẩn: rừng nghèo đi khiến cuộc sống người dân khó khăn hơn, và họ lại càng phải khai thác sâu hơn vào rừng để tồn tại. Việc hiểu rõ bản chất và quy mô của các tác động này là yêu cầu cấp thiết để xây dựng các chính sách bảo vệ rừng hiệu quả.

2.1. Vấn nạn phá rừng làm nương rẫy và tập quán du canh du cư

Phá rừng làm nương rẫy là hình thức tác động phổ biến và gây thiệt hại lớn nhất. Do thiếu đất sản xuất lúa nước, người dân phải phát quang các khoảnh rừng để trồng lúa nương và sắn. Tập quán du canh du cư khiến các khoảnh rừng mới liên tục bị chặt hạ sau mỗi chu kỳ canh tác từ 4-5 năm. Hoạt động này làm mất đi thảm thực vật nguyên sinh, gây xói mòn đất, và làm phân mảnh sinh cảnh sống của các loài động vật. Mặc dù đây là phương thức đảm bảo an ninh lương thực truyền thống, nhưng với quy mô hiện nay, nó đang đẩy hệ sinh thái rừng đến bờ vực suy thoái. Diện tích rừng thứ sinh nghèo kiệt và trảng cỏ cây bụi ngày càng mở rộng, thay thế cho rừng nguyên sinh.

2.2. Thực trạng khai thác lâm sản trái phép và săn bắt động vật

Khai thác lâm sản trái phép là một vấn đề nhức nhối khác. Người dân khai thác gỗ để làm nhà, bán lấy tiền, và thu hái các loại lâm sản ngoài gỗ như song mây, vỏ bời lời. Hoạt động này không chỉ làm cạn kiệt nguồn tài nguyên gỗ quý mà còn gây tổn hại đến cấu trúc tầng tán của rừng. Bên cạnh đó, săn bắt động vật hoang dã để làm thực phẩm hoặc bán cũng góp phần làm suy giảm nghiêm trọng đa dạng sinh học. Nhiều loài thú lớn và chim quý hiếm đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng cục bộ do áp lực săn bắt quá mức. Các hoạt động này thường diễn ra lén lút, gây khó khăn cho công tác quản lý và bảo vệ của lực lượng kiểm lâm.

III. Cách phát huy tác động tích cực của người dân đến rừng KBT

Bên cạnh những mặt tiêu cực, không thể không nhắc đến các tác động tích cựcvai trò của cộng đồng trong việc bảo vệ rừng. Người dân địa phương, với kiến thức bản địa sâu sắc, chính là những người hiểu rừng nhất. Nếu được trao quyền và hưởng lợi ích chính đáng, họ sẽ trở thành những người bảo vệ hiệu quả nhất. Nhiều nghiên cứu quốc tế, như được trích dẫn trong luận văn, đã khẳng định chiến lược bảo tồn thành công phải liên kết với hoạt động sinh kế và có sự tham gia của người dân. Tại Bắc Hướng Hóa, đã có những mô hình bước đầu phát huy được sức mạnh cộng đồng. Việc chuyển đổi nhận thức, từ "người khai thác" sang "người quản lý", là chìa khóa để thay đổi. Khi người dân thấy rằng bảo vệ rừng đồng nghĩa với bảo vệ nguồn sống bền vững của chính mình, họ sẽ tự giác tham gia. Các chương trình giao khoán bảo vệ rừng, phát triển du lịch cộng đồng, hay các tổ bảo vệ rừng tự quản là những minh chứng rõ ràng cho hướng đi này. Đây là cơ sở để xây dựng một cơ chế quản lý tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng, hiệu quả và bền vững.

3.1. Ghi nhận các đóng góp tích cực từ cộng đồng địa phương

Trên thực tế, cộng đồng địa phương đã có những đóng góp không nhỏ vào công tác bảo vệ rừng. Họ tham gia vào các tổ, đội tuần tra, cung cấp thông tin về các đối tượng khai thác gỗ trái phép, và tham gia phòng chống cháy rừng. Kiến thức bản địa của họ về các loài cây, con vật và quy luật của rừng là nguồn tư liệu vô giá cho các nhà khoa học và nhà quản lý. Một số cộng đồng đã tự xây dựng các quy ước, hương ước về bảo vệ rừng, thể hiện ý thức tự quản cao. Những tác động tích cực này, dù còn nhỏ lẻ, nhưng cho thấy tiềm năng to lớn nếu được chính sách bảo vệ rừng hỗ trợ và nhân rộng.

3.2. Mô hình đồng quản lý và vai trò của cộng đồng trong bảo tồn

Mô hình đồng quản lý, nơi Ban quản lý KBT và cộng đồng cùng chia sẻ trách nhiệm và lợi ích, đang được xem là một giải pháp hiệu quả. Vai trò của cộng đồng được nâng cao khi họ được tham gia vào quá trình lập kế hoạch, giám sát và hưởng lợi từ các dịch vụ môi trường rừng. Ví dụ, chương trình giao khoán 4.836,7 ha rừng cho 3 cộng đồng thôn Cuôi, Cựp, Tri đã bước đầu cho thấy hiệu quả. Người dân có thêm thu nhập từ việc giữ rừng, qua đó giảm áp lực khai thác. Mô hình này giúp giải quyết xung đột giữa người và thiên nhiên, biến người dân từ đối tượng gây áp lực thành chủ thể của hoạt động bảo tồn.

IV. Bí quyết giảm tác động đến rừng KBT qua giảm nghèo bền vững

Giải pháp căn cơ nhất để giảm thiểu các tác động tiêu cực đến rừng chính là giải quyết bài toán kinh tế cho người dân. Các chương trình giảm nghèo bền vững không chỉ nâng cao đời sống mà còn là công cụ hữu hiệu để bảo tồn. Khi an ninh lương thực và thu nhập được đảm bảo từ các nguồn khác, sự phụ thuộc vào tài nguyên rừng sẽ giảm đi. Theo quan điểm bảo tồn-phát triển, việc cải thiện kinh tế phải được đặt lên hàng đầu. Các hoạt động này cần tập trung vào việc tạo ra các sinh kế người dân vùng đệm ổn định và thân thiện với môi trường. Thay vì cấm đoán, các chính sách cần hỗ trợ người dân chuyển đổi mô hình sản xuất, áp dụng khoa học kỹ thuật vào nông nghiệp, và phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp. Hướng đi này không chỉ giúp người dân thoát nghèo mà còn tạo ra một "vành đai an toàn" cho vùng lõi của khu bảo tồn, giúp công tác quản lý tài nguyên rừng đạt được mục tiêu kép: vừa bảo tồn, vừa phát triển.

4.1. Giải pháp phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng

KBT Bắc Hướng Hóa có tiềm năng lớn để phát triển du lịch sinh thái. Việc xây dựng các tour du lịch dựa vào cộng đồng, nơi du khách trải nghiệm văn hóa bản địa và khám phá thiên nhiên, sẽ tạo ra nguồn thu nhập trực tiếp cho người dân. Mô hình homestay, dịch vụ dẫn đường, cung cấp sản vật địa phương... là những hướng đi khả thi. Khi người dân nhận thấy giá trị kinh tế từ việc giữ gìn cảnh quan thiên nhiên và bản sắc văn hóa, họ sẽ trở thành những đại sứ du lịch tích cực. Du lịch sinh thái giúp đa dạng hóa nguồn thu, giảm sự phụ thuộc vào khai thác tài nguyên, và nâng cao nhận thức về bảo tồn đa dạng sinh học.

4.2. Xây dựng sinh kế thay thế Trồng cây lâm nghiệp và chăn nuôi

Việc phát triển các mô hình kinh tế thay thế là cực kỳ quan trọng. Tài liệu nghiên cứu cho thấy, người dân đã bắt đầu trồng các loại cây có giá trị kinh tế như Bời lời đỏ và Keo. Cần có chính sách bảo vệ rừng và nông nghiệp hỗ trợ về giống, kỹ thuật và đầu ra cho các sản phẩm này. Bên cạnh đó, phát triển chăn nuôi gia súc theo hướng trang trại, có chuồng trại thay vì thả rông trong rừng cũng là một giải pháp hiệu quả. Các mô hình nông-lâm kết hợp không chỉ tăng thu nhập mà còn giúp người dân sử dụng đất đai một cách bền vững, giảm nhu cầu phá rừng làm nương rẫy.

05/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.Ở nước ngoài Trên thế giới, cộng đồng quốc tế đã có nhiều nghiên cứu nhằm nỗ lực làm thay đổi chiến lược bảo tồn từ đầu thập kỷ 80. Một chiến lược bảo tồn mới dần được hình thành và khẳng định tính ưu việt, đó là liên kết quản lý KBTTN và VQG với các hạt động sinh kế của người dân địa phương, cần thiết có sự tham gia bình đẳng của các cộng đồng trên cơ sở tôn trọng nền văn hóa trong quá trình xây dựng các quyết định. Ý tưởng về một khu rừng nhất định cần được bảo vệ khỏi tác động khai thác sử dụng thường nhật của con người đã có ít nhất từ 3000 năm trước đây vào thời vua Ai Cập Ikhnaton hoặc thậm chí sớm hơn [5](Alison 1981, trong Hunter 1996, dẫn theo Nguyễn Xuân Đặng, 2005). Nguồn gốc của KBTTN “hiện đại” có từ thế kỷ 19.

VQG Yellowstone là VQG đầu tiên trên thế giới, được thành lập tại Mỹ năm 1872. VQG này nằm trên vùng đất do người Crow và người Shosshone sinh sống trên cơ sở sử dụng bạo lực ép buộc hai cộng đồng tộc người này phải rời khỏi mảnh đất của họ. Nhiều KBTTN và VQG được thành lập sau đó ở các nước khác nhau trên thế giới cũng sử dụng phương thức quản lý theo mô hình này. Dựa trên mô hình Hoa Kỳ, phương thức quản lý của nhiều VQG và KBT chủ yếu bao gồm việc ngăn cấm người dân địa phương xâm nhập vào KBT và khai thác TNR[10].

Tại các nước Đông Nam Á phương thức này tỏ ra không thích hợp vì để duy trì sự ĐDSH thì người dân địa phương bị mất quyền tiếp cận với nguồn TNR, trong khi sự phụ thuộc của họ vào TNR là rất lớn. Ở Nepal, đã có một số mô hình thành công về chương trình bảo tồn ĐDSH theo hướng toàn cầu. Tuy nhiên, do sự ảnh hưởng của cuộc xung đột vũ trang trong gần một thập kỷ đã tác động xấu đến các hoạt động bảo tồn và động vật hoang dã. Chính vì vậy, một số nghiên cứu về đánh giá tác động của những hoạt động này đến bảo tồn ĐDSH tại VQG Bardia và vùng đệm phía 3 tây Nepal đã được thực hiện.

Nghiên cứu đã khẳng định 73% người dân địa phương sống trong khu vực phụ thuộc vào nông nghiệp, nguồn chất đốt và thức ăn[26]. Ở Ấn Độ, diện tích đất lâm nghiệp đứng thứ hai sau diện tích đất nông nghiệp và là nơi ước tính có 275 triệu người dân địa phương ở các vùng nông thôn phụ thuộc vào rừng (ít nhất là một phần sinh kế của họ). Một nghiên cứu về lâm nghiệp cộng đồng bên ngoài khu rừng đặc dụng đã chỉ ra rằng các khu rừng không chỉ cung cấp tiềm năng to lớn về xóa đói giảm nghèo và tăng trưởng kinh tế nông thôn ở Ấn Độ mà vẫn hỗ trợ tốt mục tiêu quan trọng là bảo tồn[27]. Các mô hình ở Đông Nam Á đã chỉ ra rằng: Nỗ lực của các cơ quan chính phủ nhằm đưa dân chúng ra khỏi các KBT đã không mang lại kết quả như mong muốn trên cả phương diện quản lý TNR và KT-XH.

Việc đưa người dân vốn quen sống trên địa bàn của họ đến một nơi mới chẳng khắc nào “bắt cá khỏi nước” và khi đó lực lượng khác có thể xâm lấn và khai thác TNR mà không có người bảo vệ. Người dân địa phương có nhiều kiến thức cổ truyền về việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên và các thể chế cộng đồng đã tỏ ra có hiệu quả trong việc quản lý các nguồn tài nguyên này[19]. Trước những bất cập trong công tác bảo tồn ở các VQG và KBT trên thế giới từ những năm đầu của thập kỷ 80 đã có nhiều nghiên cứu, hội thảo quốc tế với sự đóng góp của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu về bảo tồn đã đề xuất những thay đổi trong chiến lược bảo tồn. Một chiến lược bảo tồn mới dần được hình thành và khẳng định tính ưu việt, đó là liên kết quản lý KBTTN và VQG với các hoạt động sinh kế của người dân địa phương, cần thiết có sự tham gia bình đẳng của các cộng đồng trên cơ sở tôn trọng nền văn hóa trong quá trình xây dựng các quyết định.

Ở Thái Lan, một thử nghiệm của Dự án “Quản lý bền vững thông qua sự cộng tác” đã thực hiện tại KBT động vật hoang dã Phu Kheio, tỉnh Chaiyaphum ở Đông Bắc Thái Lan. Kết quả chỉ ra rằng, điều căn bản để quản 4 lý bền vững tài nguyên là phải thu hút sự tham gia của các bên liên quan và đặc biệt là phải bao gồm cả phát triển cộng đồng địa phương bằng các hoạt động làm tăng thu nhập của họ[22]. Hệ thống quản lý các khu bảo vệ trước đây đã nhấn mạnh các quyền sở hữu và kiểm soát rừng của nhà nước mà không chú ý tới ảnh hưởng giữa con người và các nguồn tài nguyên, đã dẫn tới những thất bại vì tỷ lệ phá rừng hàng năm vẫn ở mức cao tới 2,6%. Bink Man W (1988) trong nghiên cứu của mình thực hiện tại làng Ban Pong, tỉnh S.Risaket, Thái Lan chỉ ra rằng các tầng lớp nghèo phải phụ thuộc vào rừng để chăn thả gia súc và thu hái tài nguyên lâm sản như củi đun và hoa quả trong rừng[17].

Ở Philippines, chiến lược quốc gia về bảo tồn ĐDSH nêu rõ rằng: “Điều chủ chốt dẫn đến thắng lợi cho bảo tồn ĐDSH là phải bảo đảm rằng các cộng đồng địa phương, những người bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi mọi quyết định về chính sách liên quan đến môi trường sẽ tham gia vào quá trình lập kế hoạch và quản lý đối với bảo tồn ĐDSH” (Denr và TCSD, 1994)[19]. Ở Indonesia, kế hoạch hành động ĐDSH ghi nhận rằng: “Việc tăng cường sự tham gia của công chúng, đặc biệt là cộng đồng sinh sống bên trong và phụ thuộc vào các vùng có tính đa dạng sinh học cao, là mục tiêu chính của kế hoạch hành động và là điều kiện tiên quyết đối với việc thực hiện kế hoạch (Bappenas, 1993- dẫn theo Lê Sỹ Trung, 2005)[19]. Về chính sách lâm nghiệp, Sheppherd G(1986) cho rằng đối với cộng đồng dân cư sống trong và gần các KBTTN, một giải pháp đề nghị là cho phép người dân địa phương củng cố quyền lợi của họ theo cách hiểu của các hệ thống quản lý nông nghiệp hiện đại, bằng cách trồng cây, cho và nhận đất, nhà nước cần xác định rõ các quyền lợi chính trị của dân trên mảnh đất mà họ nhậ với mục đích tạo thêm công ăn việc làm, tăng thu nhập và giảm tác động đến tài nguyên rừng[16]. (1999)[8], lại cho rằng nguyên nhân chủ yếu dẩn đến tính kém hiệu quả của các chương trình, dự án quản lý tài nguyên thiên nhiên 5 là chưa giải quyết tốt mối quan hệ lợi ích giữa các cá nhân trong cộng đồng, giữa lợi ích cộng đồng địa phương với lợi ích quốc gia.

Do đó chưa phát huy được năng lực nội sinh của các cộng đồng cho quản lý tài nguyên. Vì vậy, quản lý tài nguyên cần phát triển theo hướng kết hợp giữa hoạt động bảo tồn và phát triển tài nguyên với hoạt động sản xuất để cải thiện chất lượng cuộc sống người dân, thống nhất lợi ích của người dân với lợi ích quốc gia trong hoạt động bảo tồn và phát triển tài nguyên rừng[16]. Theo Nick Salafky và các cộng sự (trong Biodiversity Support Program Washington, DC, USA, 2000)[3], cho rằng vào những năm 90 của thế kỷ trước, các nhà bảo tồn bắt đầu phát triển một cách tiếp cận mới nhằm đáp ứng nhu cầu lợi ích kinh tế và bảo tồn. Những cách tiếp cận này dựa vào việc thực hiện các hoạt động sinh kế độc lập và có mối quan hệ trực tiếp với bảo tồn.

Đặc điểm cơ bản của chiến lược này là mối liên hệ giữa ĐDSH và con người xung quanh. Cũng trong chiến lược này, các nhà bảo tồn có thể giúp người dân địa phương khai thác sử dụng LSNG hoặc phát triển du lịch sinh thái[16]. Tổ chức bảo tồn động thực vật hoang dã quốc tế (WWF) 2001 đã đưa ra một thông điệp chung rất đơn giản: “Hoạt động bảo tồn phải đề cập đến vấn đề xóa đói giảm nghèo như là một phần quan trọng của chính sách bảo tồn tài nguyên rừng. Ở trong nước Trải qua hơn bốn thập kỷ hình thành và phát triển, đến nay hệ thống KBTTN của Việt Nam gồm 164 khu rừng đặc dụng (bao gồm 30 Vườn Quốc gia, 69 khu dự trữ thiên nhiên, 45 khu bảo vệ Cảnh quan, 20 khu nghiên cứu thực nghiệm khoa học) và 03 khu bảo tồn biển chứa đựng các hệ sinh thái, cảnh quan đặc trưng với giá trị đa dạng sinh học tiêu biểu cho hệ sinh thía trên cạn, đất ngập nước và trên biển đã và đang được xây dựng trên khắp các vùng, miền cả nước.

Cùng với sự ra đời của các VQG và KBTTN rải đều từ Bắc vào Nam thì hệ thống các thể chế, chính sách về công tác bảo tồn cũng đã được thiết 6 lập. Đầu tiên là Luật bảo vệ và phát triển rừng ban hành ngày 12/08/1991 và được sữa đổi ngày 03/12/2004[14], trong đó quy định rừng đặc dụng bao gồm: + Vườn quốc gia + Khu bảo tồn thiên nhiên gồm: Khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài, sinh cảnh + Khu bảo vệ cảnh quan gồm: Khu rừng di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh + Khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học Quyết định số 08/2001/QĐ-TTg ban hành ngày 11/01/2001[4], đã đề cập đến việc ban quản lý các khu bảo vệ được xây dựng các quy định về phạm vi sử dụng rừng đối với người dân địa phương sinh sống trong các KBT. Gần đây nhất, Thủ tướng Chính phủ ký quyết định số 186/2006/QĐ- TTg ngày 14/08/2006 về việc ban hành Quy chế quản lý rừng[18], thay thế quyết định số 08/2001/QĐ-TTg. Theo điều 14 chương II của quy chế quản lý rừng Nghị định số 109/2003/NĐ-CP ngày 23/09/2003 về bảo tồn và phát triển bền vững các vùng đất ngập nước.

Quyết định số 62/2005/QĐ-BNN ngày 12/10/2005 quy định tiêu chí phân loại rừng đặc dụng. Nghị định số 117/2010/NĐ-CP ngày 24/12/2010 về tổ chức và quản lý hệ thống rừng đặc dụng. Chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2006 – 2020. Trong nhiều năm qua, đã có nhiều nhà khoa học quan tâm tới việc nâng cao hiệu quả của các KBTTN và VQG theo quan điểm bảo tồn – phát triển.

Đó là làm sao dung hòa mối quan hệ giữa bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và phát triển kinh tế - xã hội của người dân địa phương., Lê Trọng Cúc, Trần Đức Viên (1997)[9], đã đề cập đến các sản phẩm từ rừng và sức ép của người dân địa phương vào rừng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ