PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ngƣời lao động luôn là chủ thể quan trọng trong duy trì sự phát triển và phát triển bền vững của xã hội. Ngƣời lao động cống hiến sức lao động để tạo ra của cải vật chất cho xã hội, đồng thời cũng là ngƣời hƣởng thụ phần lớn thành quả của sản xuất. Việc mất khả năng lao động (hoặc không có việc làm) khiến ngƣời lao động chuyển đổi từ trạng thái đóng góp của cải xã hội sang trạng thái tiêu tốn của cải xã hội.
Sự thay đổi đó sẽ khiến sự ổn định và cân bằng xã hội bị lung lay. Thất nghiệp là một hiện tƣợng khách quan và tồn tại trong nền kinh tế thị trƣờng. Theo tính chất thất nghiệp thì thất nghiệp đƣợc chia thành 2 loại: thất nghiệp tự nguyện và thất nghiệp không tự nguyện. Trong đó: thất nghiệp tự nguyện phát sinh do ngƣời lao động không chấp nhận những công việc hiện thời với mức lƣơng tƣơng ứng.
Còn thất nghiệp không tự nguyện xảy ra khi một bộ phận ngƣời lao động không tiếp cận đƣợc việc làm phù hợp với khả năng bản thân họ, mặc dù họ đã cố gắng tìm kiếm và chấp nhận mức thu nhập mang tính thịnh hành. Lƣờng trƣớc những rủi ro thất nghiệp có thể xảy ra đối với ngƣời lao động và hỗ trợ tài chính kịp thời cho ngƣời thất nghiệp là một chính sách xã hội quan trọng của quốc gia. "…Những nhà quản lý nhà nước ở các nước phát triển như: Hoa Kỳ, Đức, Pháp. xây dựng chính sách bảo hiểm thất nghiệp đối với người lao động trong độ tuổi lao động nhằm đảm bảo sự phát triển ổn định, lâu dài và thịnh vượng cho các thế hệ lao động trong tương lai …" (theo tài liệu [1] ).
Nền tảng của việc xây dựng chính sách BHTN ban đầu đƣợc dựa trên sự tính toán dài hạn về thay đổi tỷ lệ thất nghiệp và quy mô lực lƣợng lao động, nhằm đảm bảo sự công bằng lợi ích giữa phần đóng góp và hƣởng thụ của ngƣời lao động. Ngoài ra, một đặc trƣng quan trọng của quỹ BHTN là mục đích bảo vệ thu nhập chung của tất cả ngƣời lao động trong xã hội và liên tục qua nhiều thế hệ (theo tài liệu [2]). Ở nhiều quốc gia trên thế giới, nhà nƣớc thực hiện kiểm soát quản lý hoạt động của quỹ BHTN, nhƣng không can thiệp vào tổ chức tài chính của quỹ BHTN. Nói cách khác là hoạt động tài chính của quỹ BHTN là độc lập.Nguyên tắc tự cân 1 luan an đối tài chính quỹ BHTN (pay as you go) cho phép quỹ BHTN tự xác định mức đóng góp và mức chi trả nhằm duy trì sự bền vững tài chính lâu dài của quỹ BHTN.
Ở Việt Nam, bảo vệ lợi ích của ngƣời lao động đƣợc bảo vệ qua hệ thống bảo hiểm xã hội. Chính sách bảo hiểm xã hội (gồm cả BHXH, BHYT và BHTN) của cơ quan quản lý nhà nƣớc đã đạt đƣợc nhiều thành tựu quan trọng. Sự chênh lệch kinh tế giàu nghèo, vùng miền, giới tính… đã đƣợc điều chỉnh tích cực nhằm giảm bớt sự bất bình đẳng trong xã hội. Mô hình tổ chức tài chính quỹ BHTN ở Việt Nam cũng tuân thủ với nguyên tắc tài chính độc lập.
Nguyên tắc độc lập tài chính của quỹ BHTN của Việt Nam ràng buộc quản lý tài chính quỹ BHTN trong mối quan hệ thu, chi. Theo đó, mức thu đƣợc xác định để làm cơ sở chi và ngƣợc lại. Nhà hoạch định chính sách đƣa ra tính toán dài hạn để xác định mức thu và mức chi cố định nhằm đảm bảo quyền lợi giữa việc đóng góp và hƣởng thụ (chính sách BHTN ở Việt Nam quy định mức thu và mức chi đƣợc cố định theo tỷ lệ phần trăm tiền lƣơng). Mô hình thu chi BHTN dựa trên việc tự chủ tài chính hay tự quyết định mức thu, mức chi BHTN còn đƣợc gọi là mô hình thu chi BHTN trong điều kiện tự cân đối.
Để đảm bảo tính bền vững và lâu dài cho hoạt động tài chính quỹ BHTN, thì cần phải tính toán đƣợc xu hƣớng biến động thu, chi và sự cân bằng của mô hình thu chi BHTN. Sự cân đối tài chính của mô hình thu – chi BHTN đƣợc xác định dựa trên phần chênh lệch giữa thu và chi BHTN. Các nhà hoạch định chính sách BHTN ở Việt Nam xây dựng mô hình phản ánh sự cân đối tài chính quỹ BHTN theo hƣớng xác định riêng biệt giá trị khoản thu và giá trị khoản chi BHTN. Trong đó, mô hình thu chi BHTN trong điều kiện tự cân đối ở Việt Nam trong giai đoạn mới thành lập, đều dựa trên những giả định kinh tế về tỷ lệ thất nghiệp ở mức giao động +/- 4% và xu hƣớng biến động thu, chi BHXH trong quá khứ (theo các tài liệu [3],[4],[5]).
Tuy nhiên, từ khi đi vào có hiệu lực từ năm 2009, có sự khác biệt và chênh lệch trong giả định trong dự báo chính sách và thực tế biến động thu, chi. Sự khác biệt này làm cho mô hình thu chi BHTN biến động ngoài dự kiến và làm nảy sinh một vài vấn đề liên quan đến cân đối tài chính của quỹ BHTN ở Việt Nam. Những nguy cơ đƣợc những nhà nghiên cứu trong và ngoài nƣớc đã chỉ ra gồm: 2 luan an Thứ nhất, tốc độ tăng chi lớn hơn tốc độ tăng thu quỹ BHTN. Sự chênh lệch về tốc độ chi và thu BHTN ngày càng nới rộng trong thời gian gần đây đã làm giảm tích lũy quỹ BHTN (thời gian tích lũy quỹ BHTN ngắn lại) và làm giảm cơ hội chi trả cho ngƣời thất nghiệp khi xảy ra khủng hoảng thất nghiệp với quy mô lớn và thời gian kéo dài.
Trong khi số lƣợng ngƣời tham gia đóng BHTN đang tăng chậm dần, thì số lƣợng ngƣời hƣởng chi trả BHTN lại tăng nhanh (theo các tài liệu [6], [7]). Bên cạnh nguyên nhân khách quan nhƣ: yếu tố khoa học kỹ thuật mới làm giảm số lƣợng việc làm và tăng số lƣợng ngƣời thất nghiệp, hoặc hội nhập kinh tế quốc tế khiến ngành nghề thiếu sức cạnh tranh bị xóa xổ (tăng tỷ lệ thất nghiệp) và một số ngành nghề mới đƣợc tạo ra (tạo thêm việc làm), thì cũng có nguyên nhân chủ quan đến từ chính bản thân ngƣời lao động. Thất nghiệp tự nguyện để nhằm hƣởng chi trả thất nghiệp cũng là một nguyên nhân tiêu cực khiến tốc độ chi tăng nhanh hơn tốc độ thu BHTN. Tất cả những hiện tƣợng này khiến "mục tiêu đảm bảo khả năng hỗ trợ tài chính cho ngƣời thất nghiệp trong tƣơng lai của quỹ BHTN ở Việt Nam" trở nên mong manh hơn (ít sức chịu đựng hơn)".
Thứ hai, quản lý và vận hành quỹ BHTN còn nhiều khiếm khuyết. Tình trạng doanh nghiệp trốn tránh nghĩa vụ đóng bảo hiểm cho ngƣời lao động diễn ra không chỉ ở doanh nghiệp có vốn đầu tƣ trong nƣớc, mà còn cả ở những doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài. Trong khi đó, chi phí quản lý và điều hành quỹ cũng không ngừng tăng lên mà các hoạt động quản lý (hiệu suất) không thay đổi lớn. Chẳng hạn nhƣ: chi phí đào tạo lại nghề và giới thiệu nghề cho ngƣời thất nghiệp không thu hút đƣợc ngƣời thất nghiệp tham gia.
Các con số báo cáo quản lý chi BHTN chƣa thực sự thuyết phục ngƣời lao động và ngƣời sử dụng lao động tin tƣởng vào chính sách BHTN (theo các tài liệu [8], [9], [10], [11]). Cuối cùng, các điều kiện kinh tế - xã hội thay đổi khác biệt so với thời kỳ thiết kế - xây dựng quỹ BHTN, khiến biến động thu, chi BHTN chệch khỏi quỹ đạo cân bằng ban đầu. Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa thu, chi BHTN và điều kiện kinh tế - xã hội thay đổi cho thấy vai trò quan trọng của dự phòng quỹ BHTN khi xảy ra khủng hoảng thất nghiệp – kinh tế xảy ra (theo các tài liệu [12], [13], [14]). Với sự thay đổi điều kiện kinh tế - xã hội (mức lƣơng cơ sở tăng, biến động lạm phát, chu kỳ thất nghiệp ngày càng ngắn và mức độ khủng hoảng thất nghiệp ngày 3 luan an càng lớn.), thì khả năng tăng chi từ quỹ BHTN tăng lên nhằm khắc phục khủng hoảng xảy ra.
Điều này cũng khiến mục tiêu tích lũy và cân bằng quỹ BHTN dƣờng nhƣ chệch khỏi quỹ đạo dự kiến ban đầu. Các mô phỏng dự báo thu, chi BHTN và cân đối thu chi có sự chênh lệch lớn so với báo cáo thực tế (theo các tài liệu [3],[4],[5]). Do vậy, công tác thiết kế và dự báo tài chính quỹ BHTN là một vấn đề hệ trọng trong hoạt động tƣơng lai của quỹ BHTN. Những vấn đề thực tiễn ở trên đặt ra những thách thức nhƣ: + Cần phải xem xét lại mô hình cân đối thu – chi BHTN để nhằm mục tiêu cho ra kết quả dự báo có độ sai lệch thấp.
Mô hình dự báo thu chi BHTN hiện nay ở Việt Nam phải thể hiện đƣợc vai trò quan trọng nhằm làm tăng mức độ thuyết phục ngƣời tham gia vào quỹ và ngƣời quản lý quỹ BHTN vào niềm tin về hiệu quả hoạt động quỹ BHTN. Tuy nhiên, kết quả của những công trình nghiên cứu mô hình cân đối thu chi quỹ BHTN hiện nay cho ra kết quả có sự sai lệch đáng kể. Do đó, cần thiết phải xem xét, lựa chọn và tính toán lại các thông tin về xu hƣớng biến động thu chi quỹ BHTN. + Kế thừa và vận dụng những cơ sở khoa học hiện đại trong nghiên cứu các vấn đề kinh tế - xã hội ở trên thế giới vào thực hiện kiểm chứng ở Việt Nam? Mô hình dự báo và cân đối quỹ BHTN ở Việt Nam đầu tiên đƣợc đƣa ra vào năm 2011 và đƣợc chỉnh sửa, bổ sung vào năm 2015.
Trong khi các nhà nghiên cứu và quản lý quỹ BHTN ở Việt Nam vẫn theo đuổi lựa chọn phƣơng pháp tiếp cận trực tiếp, thì các nhà nghiên cứu trên thế giới đã và đang sử dụng mô hình ảnh hƣởng của nhân tố kinh tế vĩ mô tới sự cân đối thu chi quỹ BHTN nhằm thay thế những khiếm khuyết của phƣơng pháp tiếp cận trực tiếp. Mô hình này đã gắn kết giữa nhân tố khách quan của nền kinh tế thị trƣờng với sự thay đổi cấu trúc xã hội. Từ đó nhằm hƣớng tới xây dựng chính sách xã hội về an sinh cho ngƣời thất nghiệp phù hợp với nền kinh tế thị trƣờng.