Chương 1: Giới thiệu về vấn đề nghiên cứu - Chương 2: Tổng quan vấn đề nghiên cứu - Chương 3: Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu - Chương 4: Thực trạng vấn đề nghiên cứu - Chương 5: Hàm ý chính sách 14 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Các khái niệm liên quan 2. Tăng trưởng kinh tế Khái niệm về tăng trưởng kinh tế đã được đề cập đến từ thế kỷ XVIII trong lý thuyết về lợi thế tuyệt đối của Adam Smith như một sự gia tăng mức độ giàu có của một quốc gia, chủ yếu được đo lường bằng sự gia tăng số hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra. Với trường phái trọng nông của Pháp, khái niệm về tăng trưởng kinh tế được coi như lượng tăng hoàn toàn của số sản phẩm so với lượng được đưa vào sản xuất ban đầu.
Ngoài ra, tăng trưởng kinh tế cũng được đề cập trong lý thuyết của Harrod - Domar như một sự thay đổi của tổng sản lượng (Y), trong đó Y là tập hợp tất cả hàng hóa được sản xuất của nền kinh tế trong khoảng thời gian xác định. Đến đầu thế kỷ XX, khi trường phái kinh tế học phương đông xuất hiện, hệ thống tài khoản quốc gia (SNA) cũng ra đời, theo đó tổng sản lượng thường được xác định bằng chỉ tiêu tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản phẩm quốc dân (GNP), dẫn đến khái niệm mới về tăng trưởng kinh tế. Theo cách tiếp cận của Ngân hàng Thế giới (WB), tăng trưởng kinh tế được hiểu là phần trăm GDP tăng lên hằng năm theo giá thị trường dựa trên đồng nội tệ. Trong bài nghiên cứu này, tăng trưởng kinh tế được hiểu là sự gia tăng về quy mô sản lượng của một nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định, được đo bằng sự thay đổi của chỉ tiêu GDP.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài Đầu tư trực tiếp nước ngoài (tiếng Anh: Foreign Direct Investment), theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO, 1996), xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Có thể thấy rằng, dưới cách định nghĩa của WTO, một khoản đầu tư sẽ được xác định là đầu tư trực tiếp nước ngoài nếu thỏa mãn được 2 điều kiện: đầu tư được thực hiện từ nước này sang nước khác (có sự tham gia của yếu tố nước ngoài) và nhà đầu tư cần có quyền quản lý tài sản mà mình mua. 15 Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF, 2009) đưa ra khái niệm về FDI như sau: là hình thức đầu tư qua biên giới, trong đó một chủ thể cư trú ở một nền kinh tế có quyền kiểm soát hoặc có được một mức độ ảnh hưởng đáng kể đến việc quản lý một doanh nghiệp cư trú tại một nền kinh tế khác với mục tiêu là thiết lập lợi ích lâu dài và nắm quyền quản lý thực sự doanh nghiệp. Cách định nghĩa này nhấn mạnh vào yếu tố nước ngoài, cụ thể là việc đầu tư được thực hiện qua biên giới, từ nền kinh tế này sang nền kinh tế khác.
Cũng theo IMF, một khoản đầu tư có giá trị từ 10% cổ phần của doanh nghiệp nhận đầu tư trở lên có thể được phân loại là vốn FDI, khi đó doanh nghiệp tiếp nhận vốn được gọi là doanh nghiệp FDI. Theo Tổ chức hợp tác và phát triển Kinh tế (OECD), đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư qua biên giới, được thực hiện bởi một chủ thể cư trú ở một nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp) với mục đích thiết lập lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp (doanh nghiệp nhận đầu tư trực tiếp) cư trú tại một nền kinh tế khác nền kinh tế của nhà đầu tư. Cách định nghĩa của OECD nhấn mạnh vào yếu tố xuyên biên giới, yếu tố nước ngoài của khoản đầu tư và mục đích thiết lập lợi ích lâu dài của doanh nghiệp. Trong cách định nghĩa này, thuật ngữ “lợi ích lâu dài” hàm ý rằng tồn tại mối quan hệ lâu dài giữa nhà đầu tư trực tiếp và doanh nghiệp cũng như mức độ ảnh hưởng đáng kể của nhà đầu tư lên các quyết định quản lý của doanh nghiệp, tương tự với thuật ngữ được đề cập trong định nghĩa của IMF.
Bên cạnh đó, mức độ ảnh hưởng đáng kể trong việc quản lý chỉ ngụ ý rằng các nhà đầu tư trực tiếp có thể tác động đến sự quản lý của doanh nghiệp và không ngụ ý rằng họ có thể kiểm soát tuyệt đối doanh nghiệp. Theo UNCTAD (2012), FDI lại được định nghĩa với những yếu tố cấu thành rất rõ ràng bao gồm: việc đầu tư dài hạn gắn liền với lợi ích và sự kiểm soát lâu dài của một chủ thể đầu tư; ở một quốc gia này vào một công ty ở một quốc gia khác. Theo đó, đầu tư trực tiếp nước ngoài gắn liền với sự dịch chuyển các dòng vốn đầu tư vượt qua biên giới lãnh thổ của một quốc gia, tức là từ nước đầu tư (home country) sang nước nhận đầu tư (host country). Các yếu tố xác định FDI trong cách định nghĩa này bao gồm: dài hạn, gắn liền với lợi ích và sự kiểm soát lâu dài, từ quốc gia này sang quốc gia khác.
Từ những khái niệm trên về FDI, có thể hiểu rằng FDI là một loại hình của đầu tư quốc tế, phản ánh sự di chuyển các loại tài sản như vốn, công nghê ̣, kỹ năng quản lý từ 16 nước này sang nước khác trong một thời gian dài để kinh doanh với mục tiêu là lợi nhuận, trong đó người sở hữu vốn (cổ phần tại doanh nghiê ̣p nhận đầu tư) trực tiếp điều hành các hoạt động tại doanh nghiê ̣p nhận đầu tư. Đô thị hóa Theo Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (US EPA), đô thị hóa là sự tập trung của dân cư vào các khu vực riêng biệt, dẫn đến sự chuyển đổi về đất đai để phục vụ mục đích cư trú, thương mại, công nghiệp và giao thông. Sự tập trung này có thể diễn ra ở các trung tâm dân cư đông đúc, các vùng ngoại ô hoặc rìa đô thị liền kề. Nguyễn Hường (1984) cho rằng đô thị hóa là một quá trình kinh tế - xã hội nhiều mặt, gắn liền với sự phân hóa của các nhân tố chiều sâu bên trong bản thân quá trình đó.
Lúc đầu, đô thị hóa còn hạn chế ở các thành phố, sau đó ngày càng lan rộng ra các vùng nông thôn và bao trùm cả xã hội nói chung, xóa bỏ dần những sự khác biệt giữa thành phố và nông thôn. Đô thị hóa hiện đại mang các đặc điểm cơ bản như: sự tập trung hóa, sự tăng cường đi vào chiều sâu và sự phân hóa các loại hoạt động trong thành phố; sự hình thành những hình thức và cơ cấu không gian mới của các quần cư; sự phổ cập lối sống thành phố với các cơ cấu và thông tin văn hóa nhiều hình nhiều vẻ… Trong đó, sự hình thành những hình thức quần cư mới hàm ý rằng có sự chuyển đổi từ thành phố sang cụm thành phố, vùng và miền đô thị hóa. Theo Marc Antrop (2004), đô thị hóa đề cập đến hai cách tiếp cận rất khác nhau: một khái niệm thống kê và một quá trình phát triển. Dưới góc độ thống kê, đô thị hóa được đo lường bằng tỷ lệ dân số sống tại các khu vực đô thị so với tổng dân số.
Đây là cách đo lường phổ biến trong các thống kê quốc tế. Tuy nhiên, khái niệm “khu vực đô thị” lại khác nhau đáng kể giữa các quốc gia, và việc xác định cũng như phân ranh giới các khu vực đô thị là một nhiệm vụ khó khăn và phức tạp. Với cách tiếp cận thứ hai, đô thị hóa có thể được hiểu như một quá trình di chuyển của dân cư từ khu vực nông thôn đến thành thị, dẫn đến sự mở rộng của các khu vực đô thị và sự suy giảm dân số ở vùng nông thôn. Ủy ban Kinh tế Xã hội châu Á Thái Bình Dương Liên Hợp Quốc (UNESCAP, 2013) định nghĩa đô thị hóa là quá trình hình thành các vùng đô thị, theo đó vùng đô thị được hiểu là một khu vực xây dựng kín hoặc một khu vực đông dân cư bao gồm khu trung tâm thành 17 phố, khu ngoại thành và các khu định cư lao động.
Vùng đô thị theo định nghĩa này có thể rộng hơn hoặc nhỏ hơn một khu vực thành thị bao gồm khu trung tâm thành phố và dải ngoại thành hoặc lãnh thổ đông dân cư tiếp giáp. Thành thị bao gồm các khu vực quản trị địa phương chính thức thường bao gồm toàn bộ khu vực đô thị và khu định cư lao động chính của thành phố. Khu trung tâm thành phố là một khu vực có chức năng chính trị bao gồm trung tâm lịch sử của thành phố. Theo UNESCAP, quá trình đô thị hóa diễn ra theo ba phương thức: Tăng dân số tự nhiên, di cư từ nông thôn lên thành thị và phân loại lại khu nông thôn thành khu thành thị.
Như vậy, từ những khái niệm trên, có thể hiểu đô thị hóa là quá trình hình thành và mở rộng các khu vực đô thị, thể hiện qua sự gia tăng về quy mô dân số đô thị, diện tích đô thị, dẫn đến sự thay đổi trong cơ cấu kinh tế, dân số và lao động cũng như trong môi trường sống, văn hóa, tổ chức dân cư. Công nghiệp hóa Hewitt và cộng sự (1992) đưa ra khái niệm về công nghiệp hóa như “một phương thức tổ chức sản xuất cụ thể, giả định rằng luôn tồn tại một quá trình thay đổi kỹ thuật và xã hội liên tục, qua đó không ngừng nâng cao năng lực sản xuất của xã hội đối với nhiều loại hàng hóa”. Theo quan điểm này, công nghiệp hóa được nhìn nhận như một quá trình tổng thể, có tác động sâu sắc đến xã hội thông qua sự gia tăng về sản lượng hàng hóa và dịch vụ. Theo cách tiếp cận của Nền tảng Liên chính phủ về Khoa học – Chính sách về Đa dạng Sinh học và Dịch vụ Hệ sinh thái (IPBES), công nghiệp hóa là quá trình thay đổi về kinh tế – xã hội trong đó có sự chuyển đổi từ xã hội nông nghiệp sang xã hội công nghiệp, bao gồm quá trình tái tổ chức nền kinh tế nhằm phục vụ cho hoạt động sản xuất công nghiệp.